Chiếc đũa ngủ
Ngày
xửa ngày xưa có một anh chàng nọ, tính tình chăm chỉ cần cù, làm lụm quanh năm
suốt tháng không nề hà vất vả những vẫn nghèo, phải làm thuê làm mướn cho mọi
người đến độ cả ngày chỉ dám chợp mắt một một lúc. Ban ngày thì làm những việc ban ngày như cày, cuốc, chăn trâu, cắt cỏ, ban đêm cũng có việc ban đêm
như xay lúa, bổ củi, mài dao dựa thuê. Cả ngày cứ luôn chân luôn tay không
ngừng.
Một
hôm, nhân trời sáng trăng, anh tranh thủ ra đồng cắt cỏ. Cắt một hồi, trăng đã
lên đỉnh đầu, trời đã quá khuya có lẽ đã sang ngày mới, mệt lả người, mắt đã
díu lại không nhấc nổi lưỡi liềm nhưng anh lại vốc nước lên mặt cho tỉnh vì
việc còn nhiều, cố gắng gượng làm thêm chút nữa cho xong. Vừa làm anh vừa thầm
ao ước, mình không ngại vất vả, làm cả ngày cũng không sao, chỉ là thời gian ngủ
cũng phí mất, giá như mỗi ngày chỉ ngủ một lúc, khi tỉnh dậy có thể liền khỏe
khoắn như giấc ngủ dài thì mình sẽ có nhiêu thời gian hơn để làm việc. Đang
mông lung suy nghĩ bỗng đâu có tiếng như người ngáy vang dền phía xa xa. Anh
nông dân bỗng thấy thắc mắc, đêm hôm khuya khoắt, cả cánh đồng không một bóng
người, ai lại ra đồng ngủ bờ ngủ bụi làm gì. Nghĩ vậy, nhưng anh vẫn tò mò đến
gần xem. Tiếng ngáy phát ra từ bụi lau cuối bờ, anh đến, vạch cụm la ra thì
thấy một ông lão đang ngủ ngon lành. Trời hè về khuya vẫn se lạnh, thấy ông nằm
co quắp. Anh nghĩ ông lão già thế này mà đêm hôm còn phải ngủ bờ ngủ bụi, chắc
là không cửa không nhà hoặc cũng cảnh lao động nhọc nhằn phải làm đêm làm hôm
như mình, tạt vào đây ngủ. Anh nông dân động lòng thương cảm, cở tấm áo duy
nhất trên người ra đắp cho ông rồi lẳng lặng quay lại làm việc. Có lẽ có áo đắp
dễ chịu, ông lão ngủ say ngon lành, tiếng ngáy nhỏ dần rồi mất hẳn.
Chẳng
mấy chốc trời đã tản sáng, việc cũng vừa xong, anh nông dân bèn đến chỗ cuối bờ
xem thử ông lão. Ông lão đã ngủ cả buổi tối, có lẽ cũng gần thức, anh định đến
lấy chiếc áo rồi về. Nhưng vừa đến chỗ bụi lau cuối bờ, anh hốt hoảng, không
thấy người đâu. Nhìn dáo dác một lượt không thấy dấu vết gì, anh tiếc chiếc áo
hùi hụi nhưng cũng đành ngậm ngùi về nhà, tranh thủ ngủ một giấc. Thường thì
ngày nào cũng làm đêm đến khi tản sáng là anh lại tranh thủ ngủ, đến khi trời
sáng, hàng xóm dậy đi làm, họ sẽ đánh thức anh dậy, vì làm đêm mệt mỏi, không
có người đánh thức anh không tự dậy được.
Lê
lết về đến nhà, anh nông dân đã lăn ra ngủ, trong giấc ngủ mơ màng, anh thấy
ông lão lúc nãy đứng trước mặt anh cười nói:
-Ta
là tiên, thường ngao du sơn thủy, hay hiện thân để xem người trần gian ăn ở thế
nào, thấy không ít kẻ gian tham, ác ôn, ích kỷ ta đều trừng phạt không nương
tay, hôm nay thấy con là người nhân hậu, biết nhường áo giúp đỡ người khó, thật
là đáng quý, vừa hay ta có thứ bảo bối này có thể giúp con. Đây là một que gỗ
thần, có chỉ cần gõ đầu nhỏ của que gỗ lên đầu là sẽ lăn ra ngủ một lúc rồi tự tỉnh
lại, còn gõ đầu to thì không tự tình được, mà phải gõ thêm lần nữa mới tỉnh.
Dùng que gỗ này thì dù ngủ một giấc ngắn khi tỉnh dậy cũng khỏe khoắn khoan
khoái như thường. Ta tặng cho con, hãy nhớ dùng đúng mục đích, lợi mình giúp
người, đừng lợi dụng nó làm chuyện gian tham.
Nói
đoạn ông tiên biến mất. Ngoài ngõ đã vẳng tiếng hàng xóm đi làm tranh thủ gọi
anh dậy. Đang còn ngái ngủ chưa tỉnh, thì anh thấy que gỗ trong mơ ông tiên
cho, quả đang nằm trong tay mình. Lạ lùng hết sức, anh nông dân còn nửa tin nửa
ngờ, định gõ thử lên người nhưng lại sợ que gỗ nghiệm thật, lăn ra ngủ mất thì
không đi làm được, thế là anh dấu que gỗ vào một góc rồi đi làm.
Chiều
muôn hôm ấy anh về đến nhà, bèn lôi cây đũa ra gõ một cái thật nhẹ lên đầu, thế
là chẳng biết trời trăng gì nữa đã thiếp đi, mới qua một lúc thời gian chừng
như đun ấm nước chưa kịp sôi, anh nông dân đã tỉnh lại, đúng là vừa chợp mắt có
một lúc ngắn đã thấy người ngợm khỏe khoắn sung mãn như ngủ qua một đêm, anh
nông dân mừng trong bụng, lại tranh thủ làm thông cả đêm hôm ấy. Từ ấy trở đi,
cứ khi nào mệt, anh lại tìm nơi đặt lưng, gõ nhẹ một cái là ngủ chợp mắt một
chập, khi tỉnh dậy đã khỏe khoắn như thường, lại tiếp tục làm việc được. Nhờ
vậy mà anh làm được nhiều việc, cũng có đồng ra đồng vào, người lại khỏe khoắn
hồng hào béo tốt lên chứ không gầy gộc hốc hác như khi còn thức đêm làm việc
ngày trước.
Cuộc
sống cứ vậy tiếp diễn, anh nông dân vui vẻ tưởng chừng như an phận, bỗng một
hôm nhà hàng xóm, trước đây vẫn được anh nhờ sáng sớm tranh thủ gọi dậy, từ dịp
ấy anh nông dân không nhờ nữa mới đâm nghi hoặc, một hôm hắn gặp mặt anh mới
hỏi chuyện. Anh nông dâ thật thà đem câu chuyện được que gỗ thần ra kể hết. Tên
hàng xóm cũng hớn hở bảo anh nông dân cho mình thử một cái, quả nhiên hiệu
nghiệm. Hắn mừng ra mặt nhưng trong lòng đã nẩy lòng tham, bèn cầm que gỗ thần
gõ đầu to vào anh nông dân. Đương nhiên anh nông dân lăn quay ra ngủ li bì như
chết. Tên hàng xóm liền giả tảng hô hào mọi người đến rồi bảo mình phát hiện ra
anh nông dân nằm gục chỗ ấy, chắc là trúng gió đã qua đời. Làng xóm thấy người
anh nông dân còn ấm nhưng cứ li bì, làm đủ mọi cách cũng không tỉnh, mang anh
về nhà để qua một vài hôm cũng không có chuyển biến, cầm chắc là anh chết rồi,
liền hô hào nhau làm ma chay cho anh vì anh không thân không thích.
Ma
chay xong xuôi, tên hàng xóm gian ác liền lôi cây đũa ra dùng. Hắn thường lẻn
vào các nhà giàu có ăn cắp, hễ bị ai phát giác thì gõ vào đầu người ấy cho ngủ
đi, hắn chỉ dám gõ đầu nhỏ làm cho họ thiếp đi một hồi chứ không dám gõ đầu to
sợ khiến người ta không tỉnh lại được thì quan phủ sẽ chú ý truy lùng gắt gao.
Thế là hắn đã làm trót lọt nhiều vụ, có tiền tiêu pha chơi bời không phải làm
gì. Tuy nhiên, lòng tham hắn không đáy, hắn chợt nghĩ phen này phải vào tận
ngân khố hoàng cung làm một mẻ lớn cho đáng. Nghĩ là làm, đêm ấy hắn lẻn vào
trong cung, đánh ngất mấy tên lính canh rồi ngang nhiên lục chìa khóa, mở kho
vàng rồi gom hết vào bao. Hoàng cung canh phòng cẩn mật nhưng nhờ que gỗ thần
mà hắn ra vào như không. Đã đầy bao, hắn vác bao vàng ra về, nhưng mệt bao vàng
nặng quá, đi được vài bước còn chưa tới cửa kho thì hắn đã mệt không ra hơi.
Hắn hạ bao vàng xuống ngẫm nghĩ cách nào tẩu tán cho nhẹ nhàng. Đang suy nghĩ
bỗng có con muỗi vo ve bay đến đậu lên trán, hắn liền tiện tay vung vẩy một cái
mà không biết rằng tay mình đang cầm que gỗ thần. Chính hắn cũng ngủ thiết đi.
Qua hồi lâu, lính canh tỉnh dậy, thấy tên hàng xóm còn ngủ gục trong kho, hốt hoảng không hiểu sao mình bị
đánh ngất, lại có người lẻn được tận vào kho, mở cửa gom cả bao vàng như vậy,
đích thị là phường đạo chích. Quân lích liền trói gô cổ tên hàng xóm lại, hồi
lâu tên hàng xóm tỉnh, hốt hoảng thấy mình bị bắt trói mới nhớ ra mọi chuyện.
Tên hàng xóm bị lôi ra tra xét, tội trạng rành rành không chối vào đâu được nữa,
bị khép vào tội chém đầu, đáng đời quân gian ác.
Tuy bắt xử được tên hàng xóm, nhưng việc quốc khố bị đột nhập cũng là chuyện chấn động, đức vua đích thân đến xem xét hiện trường, đột nhiên vua thấy que gỗ mà tên hàng xóm rơi lại, cũng không biết là vật gì nhưng thấy hay hay, cứ tiện tay cầm chơi. Xem xét dặn dò quan quân đâu đấy, vua tiện đường ghé thăm công chúa út. Công chúa út năm nay đôi mươi, xinh đẹp tuyệt trần, công dung ngôn hạnh đều vẹn toàn, vua cha nhất mực yêu quý chăm lo. Đến cung công chúa, thấy con gái đang ngồi luyện chữ, nhà vua định trêu con một chút, liền từ từ đi đằng sau tới, tiện que gỗ trên tay gõ vào đầu công chúa út một cái,...
Quảng
Ngãi, ngày 15, tháng 6 năm 2019
Ngờ
đâu, nhà vua gõ đầu to của chiếc đũa vào công chúa, khiến công chúa lập tức lịm
đi, đức vua thấy con gái ngã lăn ra thì hốt hoảng văng cây đũa khỏi tay để đỡ
con rồi thét nô tì, quân lính hầu cần đến đưa công chúa về phòng, truyền thái y
đến khám. Nhưng phép thần thông của chiếc đũa không thái y nào khám ra được,
chỉ thấy công chúa ngủ li bì không rõ nguyên nhân. Bao nhiêu ngự y hoàng cung
đều bó tay, nhà vua lo lắng không yên, chỉ còn cách ban cáo thị tìm kiếm thầy
hay thuốc tốt trong dân gian, ai chữa được bệnh cho công chúa tỉnh lại sẽ ban
cho tiền bạc hậu hĩnh. Bao người xin được vào cung thăm bệnh nhưng đều không có
kết quả. Nhà vua bất đắc dĩ phải tăng thêm phần thưởng cho người nào chữa được
sẽ gả luôn công chúa cho. Nhưng mãi cũng không có ai thành công.
Lại
nói về câu đũa bị nhà vua quăng rơi ngay xuống hồ nhỏ trong cung, theo dòng
nước chảy ra ngoài. Một con chim thấy cây đũa trôi nổi trên dòng nước liền cắp
lên định về xây tổ.
Thời
gian từ khi anh nông dân bị đem trôn đã 3 năm, đến mùa cải tang. Không họ hàng
thân thích, làng xóm đành đứng ra lo liệu cho anh. Buổi chiều hôm ấy, mấy người
trong làng cạy mở quan tài anh ra để cải táng thì bất ngờ thấy anh vẫn còn hồng
hào nguyên vẹn, có người hoảng hốt mà thét lớn lên. Đúng lúc ấy con chim
quắp chiếc đũa đang bay ngang trên trời, nghe tiếng thét nên hốt hoảng đánh rơi
cả chiếc đũa. Chiếc đũa rơi xuống đập vào đầu anh nông dân, anh liền
choàng tỉnh dây. Dây làng thấy anh tỉnh dậy thì kinh hãi nhưng thấy anh cử
động, ăn nói như người thưởng mới tin anh còn sống thật bèn dẫn anh về lại
làng. Anh nông dân vẫn nhớ rõ tình hình lúc tên hàng xóng gian ác gõ chiếc đũa
ngủ vào mình để chiếm đoạt nhưng khi tỉnh dậy lại thấy câu đũa ngay cạnh mình
nên lấy làm thắc mắc mà chưa biết ra sao.
Về
đến làng, anh nông dân bèn dò hỏi tên hàng xóm năm xưa thì mới biết cơ sự hắn
lẻn vào ngân khố ăn trộm đã bị chém đầu, anh đã lờ mờ đoán ra thủ đoạn của hắn.
Dân làng lại kể cho anh nghe chuyện công chúa bất tỉnh bấy lâu và cáo thị của
nhà vua. Anh nông dân lấy làm nghi hoặc, liệu có phải công chúa cũng bị đũa ngủ
gõ. Anh nghĩ bụng, thử cũng chẳng mất gì, hôm sau bèn khăn gói vào hoàng cung
xin thăm bệnh cho công chúa.
Công
chúa lâm bệnh lạ đã lây, đức vua buồn rầu gần như đã chẳng còn hy vọng gì công
chúa khỏe lại nhưng cũng đành cho anh nông dân vào thăm bệnh. Không ngờ anh
nông dân vừa dùng chiếc đũa thần gõ nhẹ một cái, công chúa đã choàng tỉnh dậy.
Nhà vua vui mừng khôn xiết, ngay tối hôm ấy truyền tiệc mừng trong hoàng cung.
Trong bữa tiệc, nhà vua giữa đúng lời hứa, gả công chúa cho anh nông dân.
Công
chúa sau khi tỉnh lại, nghe chuyện mọi người kể mới biết mình lâm bệnh, được
anh nông dân cứu chữa, rất biết ơn, bèn theo lệnh vua cha, sửa soạn hôn lễ.
Hôn lễ giữa anh nông dân và công chúa được cử hành linh định. Anh nông dân thành phò mã cùng công chúa chung sống hạnh phúc. Anh dùng cây đũa thần làm nhiều việc tốt như giúp đỡ những người mắc chứng mất ngủ, gây mê để các thầy thuốc thăm khám cứu chữa người bệnh, dỗ trẻ con ngủ khỏi quấy khóc. Sau này khi anh nông dân về già lo sợ mình mất đi, cây đũa lọt vào tay quân gian ác sẽ làm nhiều chuyện xấu. Anh bèn đốt nó đi, cây đũa ngủ từ đấy không còn tồn tại.
Quảng
Ngãi (14/03/2021)
Chàng
trai nước mắm
Ngày xửa ngày xưa, giao
thương giữa các vùng còn rất kém, người trên các vùng cao không hề biết đến các
thứ gia vị miền biển như muối hay nước mắm. Ở một miền núi nọ, có một cặp vợ
chồng tuổi đã xế chiều nhưng không có con cái, hai vợ chồng vẫn hằng mong mỏi 1
mụn con cho bớt cô quạnh tuổi già nên ăn ở rất hiền lành, mong trời cao có đoái
thương đến. Người chồng trước làm thợ săn nhưng sau để hạn chế sát sinh đã
chuyển sang làm tiều phu, lại ra sức cứu giúp những thú rừng bị thương.
Một ngày nọ, có mấy
người lái buôn chở đồ từ miền biển lên bán, dân làng rất thích thú với vị đậm đà
của muối, cùng nhau xúm lại mua. Chính những người lái buôn cũng rất bất ngờ vì
mắm muối ở đây lại mới mẻ như vậy. Chúng nảy ra ý bất lương lừa gạt buôn làng
bằng cách lôi những hũ mắm ra quảng cáo là thuốc thần của miền biển, có thể
chữa được mọi bệnh. Hai vợ chồng già già ôm ấp hy vọng có con cũng dốc một
khoản tiền lớn để mua một hũ về, mỗi bữa cơm lại rót ra một ít ăn cùng như
những tên lái buôn hướng dẫn.
Không biết vì một phép
màu nhiệm nào mà bà vợ luống tuổi sau đó lại mang thai thật. 9 tháng 10 ngày
sau bà sinh ra 1 đứa bé có nét mặt khôi ngô tuấn tú lạ thường, chỉ mỗi 1 điều
là đứa bé có nước da hơi sấm và lúc nào cũng tỏa mùi thum thủm thoang thoảng
như mùi mắm vậy. Cả làng vì thế gọi cậu là Nước Mắm.
Thời gian thấm thoát
thoi đưa, chàng Nước Mắm dần trưởng thành cũng là lúc cha mẹ già yếu. Nước Mắm
rất hiếu thuận với cha mẹ khiến hai ông bà cũng được an ủi lúc tuổi già. Chàng
thay cha vào rừng đốn củi nuôi sống cả gia đình.
Sinh ra vốn đã khác người,
Mai sau ắt hẳn hơn mười thế gian.
Một hôm, Nước Mắm vào
rừng đốn củi như mọi ngày, bỗng thấy bên đường có 1 ông già đang nằm thoi thóp
trông như lả đi vì đói, chàng bèn lấy nắm cơm duy nhất của mình ra mớm cho ông
lão ăn, ông lão ít lâu hồi tỉnh. Thấy mùi nước mắm rất nồng trên người chàng
trai, ông bất giác sụt sùi xúc động. Thì ra ông lão vốn là một trang võ nghệ
cao cường, văn chương xuất chúng, thời thanh niên từng ngao du bốn bể. Sau đó
lên đến vùng núi non này thấy có bọn cướp ác ôn, ông liền ra tay đánh đuổi,
chẳng may trong lúc giao tranh, ông bị đánh thương dẫn đến tàn phế, không thể
di chuyển xa được nữa, chỉ đành dựng tạm túp lều tranh sống qua ngày ở miền sơn
cước này đã nhiều năm. Nay thấy mùi nước mắm lại bất giác nhớ nhà nên xúc động
không thôi.
Ông lão cảm kích sự
tốt bụng của Nước Mắm, lại nghĩ cũng là một cơ duyên kỳ diệu cho ông cảm nhận
lại chút hương vị quê nhà những năm tháng cuối đời, ông bền bảo cậu hằng ngày
hãy đến, ông sẽ truyền thụ võ nghệ và chữ nghĩa cho. Thời gian thấm thoát đã
qua vài năm, Nước Mắm ngày nào cũng đến chỗ ông lão học chữ đã thuộc làu kinh
sử, học võ nghệ đã tinh thông điêu luyện đến độ vào rừng đốn củi không còn phải
dùng đến dao dựa, chỉ dùng thân thủ đánh ra là cây gãy, cành đổ tha hồ cho
chàng lượm về. Nhưng cậu vẫn sống đời tiều phu bình lặng bên cha mẹ. Nước Mắm
càng trưởng thành càng khôi ngô khác thường, chỉ có điều nước da và mùi mắm
trên người thì càng nồng thêm nên chẳng ai thèm đoái hoài vì vậy mà chưa yên
được bề gia thất.
Người ưa những vẻ bề ngoài,
Làm sao thấy được những tài bên trong.
Đức vua có 1 cô công
chúa nhất mực yêu thương, 1 ngày nọ, công chúa muốn đi ra ngoài chơi 1 chuyến,
đức vua cho tùy tùng đi hầu cận rất cẩn thận. Đến gần cánh rừng nơi Nước Mắm
vẫn ngày ngày đốn củi, công chúa vì thấy hoa thơm cỏ lạ nên ra lệnh cho dừng
lại, tự mình đi dong chơi 1 lúc, chẳng may trượt chân rơi xuống vực, chưa rõ
sống chết ra sao, quân tùy tùng nháo nhác đi tìm.
Đúng lúc ấy, Nước Mắm
trên đường đến chỗ ông già đi học, đi ngang qua phát hiện công chúa, chàng vội
chạy đến xem xét, công chúa dần hồi tỉnh, nhưng do bị va đập mạnh nên người bị
xây xát ít nhiều, đặc biệt là khứu giác bị ảnh hưởng không còn ngửi thấy mùi gì
cả. Công chúa tự nhiên có cảm giác gần gũi và tin tưởng chàng trai trẻ mới
quen, đem hết sự tình kể cùng Nước Mắm, định nhờ Nước Mắm đưa mình quay lại chỗ
tùy tùng nhưng trời bất chợt đổ mưa, chàng Nước Mắm đành dìu cô công chúa vào 1
hang đá gần đó, định trú đến khi mưa tạnh mới về, nhưng không ngờ mưa mỗi lúc 1
lớn, hai người phải ở lại cả đêm trong hang động.
Một đêm ngắn ngủi
nhưng hai người tâm tình trò chuyện đều cảm động khác thường, dành nhiều cảm
mến cho nhau. Sáng hôm sau, Nước Mắm đưa nàng quay trở lại, nhưng công chúa là
người khuôn phép, nên dù có cảm tình nhưng không hề dám thề thốt yêu đương cũng
không để lại vật gì làm hẹn ước. Nước Mắm thì tự biết thân phận mình thấp hèn,
người lại có mùi khó chịu nên không dám với chèo. Hai người chia tay trong tiếc
nuối.
Duyên trời quả đúng khó lường,
Yêu nhau công chúa dân thường vẫn yêu.
Sau khi chia tay, cả
Nước Mắm và công chúa đều mang trong lòng 1 nỗi niềm tiếc nuối day dứt. Hôm
sau, Nước Mắm quay trở lại chỗ ông già thì mới hay ông lão cũng mắc cơn mưa tối
qua mà lâm cơn trọng bệnh, dùng dắng đến trưa hôm ấy thì ông lão trút hơi thở
cuối cùng. Vậy là người thầy đầy ơn nghĩa đã bỏ Nước Mắm mà đi, lại nhớ chuyện
công chúa hôm qua, trong lòng càng xót xa gấp bội, u uất không thôi. Từ đấy trở
đi càng sống lặng lẽ. Thời gian trôi qua, nỗi buồn mất thầy cũng nguôi ngoai
nhưng nỗi tương tư công chúa vẫng bâng khuâng trong lòng chàng.
Về phần công chúa, sau
khi chia tay, lại càng nhung nhớ khôn nguôi, cô quyết định quay lại kinh gấp,
báo với vua cha tổ chức cuộc thi kén chọn Võ trạng nguyên, ai đỗ trạng sẽ được
lấy công chúa. Cô những mong khi tin này loan ra, chàng Nước Mắm biết
được sẽ lên kinh dự tuyển, nắm lấy cơ hội này để hai người lại được gần nhau. Tin công chúa kén
chồng lan đi khắp các làng xã, Nước Mắm bèn xin cha mẹ được lên kinh thi thố,
trước là làm rạng danh gia đình, lấy bổng lộc đáp đền phụng dưỡng mẹ cha, sau
là được nên duyên với người con gái mình hằng thương mến.
Ở hiền ắt sẽ gặp lành,
Gà rừng lột xác sẽ thành chim công.
Kinh thành vốn đã phồn
hoa đô hội, nay lại càng đông đúc tấp nập, thanh niên trai tráng đến cả những
người tóc đã điểm sương, mặt mày nhăm nhúm cũng lũ lượt kéo về kinh thử vận
may, mong sẽ đậu võ trạng nguyên và cưới được công chúa.
Các pha tranh tài diễn
ra vô cùng quyết liệt, đến cuối cùng chỉ còn sót lại 2 người vào chung kết,
không ngoài dự liệu, 1 người chính là chàng Nước Mắm, người kia là con quan tể
tướng, vốn đã vào ra quen thuộc cung cấm triều đình.
Trận chung kết có cả
vua quan, quần thần đến dự, công chúa không được lộ mặt, đứng ở lầu cao theo
dõi, vì trên lầu cao nên công chúa, dù khứu giác đã phục hồi cũng không hề ngửi
được mùi thum thủm tự nhiên của chàng Nước Mắm. Trong khi đó, vua quan quần
thần thì hơi khó chịu, không giành nhiều cảm tình cho chàng Nước Mắm.
Cuộc tỉ thí diễn ra,
tuy con trai tể tướng cũng không phải hạng xoàng nhưng so ra vẫn còn thua xa
chàng Nước Mắm, chẳng mấy chốc đã nao núng gần bại. Biết rằng cố cầm cự chẳng
xong, con trai tể tướng bèn xin khiếu nại trận đấu không công bằng, người chàng
Nước Mắm tỏa hơi thum thủm làm ảnh hưởng đến phong độ thi đấu của mình.
Đức vua và quần thần
vốn không ưa mùi chàng Nước Mắm, nhưng xử ép thì sợ thiên hạ chê cười, đang băn
khoăn chưa biết ra sao thì bỗng đâu tin biên thùy cấp báo, quân giặc ngoại bang
đã xâm lấn đến bờ cõi nước nhà. Con tể tưởng bèn đề nghị vua cho hai người lĩnh
quân đánh giặc, xem ai đẩy lui được quân thù thì coi như thắng. Vua bèn đồng ý.
Tài cao ắt có chỗ dùng,
Gặp cơn nguy khốn anh hùng vang danh.
Dân cả nước không thể
ngờ được rằng, đây là âm mưu từ trước của cha con tể tướng, vốn từ lâu đã muốn
giết vua đoạt vị, nay nhân lúc cả nước hướng về kỳ tỉ võ chiêu thân đoạt trạng
nguyên của công chúa, cha con tể tướng đã cấu kết ngoại bang, ngấm ngầm giao
ước cho quân địch tiến vào uy hiếp. Nay vua giao quân cho con tể tướng cùng với
Nước Mắm đi đánh giặc, cha con tể tướng trước sẽ giết Nước Mắm, sau sẽ dẫn quân
hàng địch, quay lại đánh nước nhà để chiếm ngôi báu.
Trong nhà của tể tướng
có tên đầy tớ, vô tình nghe được chuyện cha con hắn bàn bạc trước ngày xuất
chinh, không nỡ nhìn sơn hà nguy khốn liền tức tốc tìm kế giải nguy, bèn lẻn
vào cung giả dạng lính canh, tiếp cận nhà vua, kể rõ sự tình. Nhà vua thất
kinh, không ngờ người thân cận bên mình bấy lâu lại làm phản như vậy, trong lúc
bối rối chưa biết xoay sở ra sao thì cha con tể tưởng do cài cắm gián điệp
trong cung, hay tin chuyện đã vỡ lở, bèn lật mặt tức khắc, dẫn thân tín tháo
chạy hội cùng quân địch, mau chóng tiến công uy hiếp kinh thành.
Quân địch đến đâu cướp
bóc giết hại dân lành vô tội vạ, cả nước oán than, sơn hà u ám. Chàng Nước Mắm
cùng nước nhà anh dũng đứng lên chiến đấu, thế giặc sắp tan đến nơi. Biết khó
lòng thắng nổi, cha con tể tướng bèn bày mưu cho quân giặc phá đập ngăn biển
của đất nước cho nước mặn tràn vào, đất ngập người chết, hủy hoại ruộng đồng,
rồi hãy rút quân, sau khi đất nước suy yếu sẽ tính chuyện quay lại thôn tính.
Quân địch bèn nhân lúc
triều dâng cao, cho quân phá đập, nước biển ồ ạt tràn vào, dân chúng chết đuối
vô số kẻ, ruộng đồng ngập trắng. Nhưng quân địch cũng không lường trước được
nước tràn quá dữ, nhiều tên giặc cũng đã bỏ mạng. Quân địch bèn tức tốc thu
quân. Tướng
giặc thấy cha con tể tướng là người nham hiểm lại bất trung, sợ sau này không
chịu yên mà sẽ làm hại mình, bèn âm thầm trừ khử. Thế là hết đời cha con quân
gian ác.
Mưu gian mấy cũng bằng thừa,
Xưa nay quả báo có chừa ai đâu.
Quân giặc đã bị đẩy
lui, nhưng nước nhà khó khăn còn chồng chất, ruộng đồng bị ngập mặn, hoa màu
chết hết cả. Trong nước có 1 con sông chính là lớn nhất, cấp nước đi khắp nơi,
dân đã dẫn nước rửa mặn ngay nhưng tình hình không khả quan được. Cứ tình hình
này, cả nước hẳn sẽ phải lâm nạn đói, hoảng loạn không yên.
Bỗng đêm hôm ấy, chàng
Nước Mắm nằm mơ một vị thần tự xưng là thần Mắm, bảo chàng lên thượng nguồn
sông tắm táp, lấy nước ấy thau mặn sẽ có phép màu. Sáng hôm sau, chàng bèn tâu
với đức vua, đức vua phê chuẩn. Chàng Nước Mắm lên đến thượng nguồn sông, tắm
táp đến đâu thì nước ra bỗng sáng sủa trắng trẻo ra, mùi thối cũng biến mất.
Chàng bỗng lột xác, dung mạo đẹp đẽ phi thường. Con sông chàng tắm, dân chúng
dẫn nước vào đồng, đến đâu thì hoa màu tươi tốt trở lại, lại trù phú bội thu.
Cả nước hân hoan.
Không còn gì ngăn trở, đám cưới của công chúa và chàng Nước Mắm được cử hành
trọng thể. Hai người nên duyên vợ chồng.
Thủy chung sẽ được thành đôi,
Thiện lương sẽ được ông trời giúp cho.
Hai người sau khi kết
hôn, càng yêu thương quấn quýt, vì mối lương duyên đặc biệt của cả hai vợ chồng
và nước mắm mà công chúa cũng tự mình nấu mắm, hoàng cung ăn không hết, công
chúa còn mang tặng mọi người quanh hoàng cung. Kỹ năng nấu mắm của công chúa
mỗi ngày một điêu luyện. Sứ thần các nước qua thăm viếng đều được tặng nước mắm
về làm quà, nhờ đó, nghề làm mắm của cả nước được thịnh vượng, xuất ra nước
ngoài, đất nước ngày càng trở lên giàu có
Hai người sinh hạ con
cái đề huề, rất may, con cái hai người ai cũng thơm tho trắng trẻo, khôi ngô
xinh xắn như cha mẹ, không ai có màu có mùi như Nước Mắm. Sau này, nhà vua già
yêu băng hà, do không có con trai, vua truyền ngôi báu cho phò mã và công chúa.
Chàng phò mã Nước Mắm lên làm vua, trị vì đất nước được yên bình, nhân dân bốn
cõi ấm no, để ca ngợi công đức nhà vua Nước Mắm, trong nước nhiều nơi tổ
chức lễ hội té Nước Mắm vào mùa xuân.
Trời cao dẫu có an bài,
Cũng cần rèn đức, luyện tài mới xong.
Trải qua nguy khốn trùng trùng,
Yêu nhau sẽ được ở cùng bên nhau.
Gia đình hạnh phúc về sau,
Nước nhà lại được mạnh giàu ấm no.
Quy Nhơn, 2/1/2019, Quảng Ngãi 31/12/2022
Ba chú sói
Ở một sứ nọ có hai người đàn ông chăn cừu xây trang trại ở cạnh nhau ở cuối làng, sát bìa rừng. Mọi người thường gọi họ là ông Râu Dài và ông Bụng Bự. Đàn cừu của hai người không quá đông đúc, đã vậy còn có điều phiền lòng là ban đêm, sói thường lẻn vào săn trộm cừu.
Ông Râu Dài là người đàn ông rất đỗi lương thiện, ông hiểu rằng
con người ngày nay sinh sôi quá nhiều, tàn phá rừng làm đất chăn nuôi trồng trọt,
lại săn bắn động vật hoang dã, sói không còn đất sống, nguồn thức ăn càng thu hẹp,
không còn cách nào, chúng chỉ có thể săn cừu, đó cũng là điều đáng buồn. Nghĩ vậy
nên ông chỉ gắng gia cố lại chuồng trại để bảo vệ đàn cừu của mình.
Còn ông Bụng Bự thì rất căm ghét lũ sói, nhất là kể từ năm
ngoái, chúng đã giết mất chú cừu đẹp nhất ông chăm bẫm hết lòng để đem tham gia
cuộc thi cừu đẹp toàn vùng. Ông chắc chắn rằng nếu không vì thế thì giải nhất không
thể lọt vào tay ông Râu Dài, nghĩ vậy, ông cũng không còn được thân tình niềm nở
với ông Râu Dài như xưa. Năm nay, chỉ còn vài tháng nữa lại chuẩn bị đến cuộc
thi cừu đẹp. Ông Bụng Bự không những để mắt sát sao đến đàn cừu, ông đặt bẫy
sói khắp nơi và thậm chí còn mua một cây súng săn, sẵn sàng bắn hạ bất cứ con
sói nào bén mảng đến. Nhưng nhìn đàn cừu của mình có phần lép vế so với nhà
hàng xóm, ông lại càng lo lắng.
Đó là một buổi chiều yên ả, đàn cừu hai nhà đang thong dong
nối đuôi nhau về chuồng. Bỗng tiếng súng nổ chát chúa vang lên góc nhà phía ông
Bụng Bự, liến sau đó ông Râu Dài thấy ông Bụng Bự lao ra đuổi theo một con sói.
Trời đã sâm sẩm tối, một người, một sói chỉ thấy như hai chiếc bóng đen lao vút
qua đồng cỏ rồi khuất sau những rặng cây vào rừng. Có vẻ như nó vừa trúng đạn
nên bước chạy liêu xiêu và nặng nề hơn những con sói ông thường thấy. Ông lão kẽ
trau mày, bất giác trong giây phút ông lại thấy một nỗi niềm thương cảm cho con
vật, dù thực lòng nếu nó lẻn vào săn cừu của mình, ông cũng phải tìm cách đánh
đuổi.
Một lúc sau thấy ông Bụng Bự trở về với dáng vẻ bực dọc, có
vẻ như ông đã mất dấu và không thể nào bắt được nó, nhưng thực ra ông Bụng Bự
còn không vui vì mình bắn kém quá, chỉ đủ sượt qua làm bị thương con sói. Nhìn
thấy ông Râu Dài đang ngồi bên hiên trông ra, ông Bụng Bự thấy bực tức như thể
mình đang bị cười nhạo, ông ta bền giương súng lên trời bắn chỉ thiên thêm một
loạt đạn. Không gian đã yên ắng dần chìm trong màn đêm cuối ngày bỗng lại xáo động.
Lũ cừu đã ở yên trong chuồng lại giật mình thon thót nhốn nháo một hồi.
Qua vài hôm, trong lúc thả cừu đi ăn trên bãi cỏ, ông Râu
Dài tranh thủ đi vào trong cánh rừng định hái một ít nấm cho bữa tối, đang lúc
lúi húi ngó nghiêng vào các hốc cây mục để tìm kiếm, ông lão hốt hoảng thấy
lưng một con sói. Ông lùi lại định thần mất vài giây, đang rối trí chưa biết
làm gì thì ông phát hiện ra xung quanh đó là những vết máu nhỏ giọt đã hóa sẫm
đen, có thể đây chính là con sói bị bắn hôm nọ, vậy là nó đang bị thương. Ông
lão cầm lấy một cành cây gần đó để tự vệ rồi nhẹ nhàng lại gần quan sát. Nó đã
chết mất rồi, lưỡi thè ra và đầu nghẹo về một bên. Nhưng điều làm ông bất ngờ
là trong lòng nó còn 3 con sói con, còn chưa mở mắt. Có vẻ như con vật vẫn ráng
nhưng hơi thở cuối cùng về với đàn con và dường như từ lúc mẹ chúng chết, chúng
không còn được bú mớm gì nữa, đã đói lả đi chỉ còn thở khe khẽ thoi thóp.
Ông Râu Dài bất giác thương cảm cho ba con thú nhỏ, liền nhặt
chúng về nuôi nấng chăm sóc. Thời gian trôi đi đã hai tháng, mấy con sói con lớn
nhanh như thổi và càng lộ vẻ ngoài giống những con sói trưởng thành, ông sợ nhà
hàng xóm sẽ cảm thấy không yên tâm nên nói đó là một giống chó hoang. Tuy thế
nhưng ông cũng không dám cho chúng ra ngoài tự do vì sợ mọi người nghi ngờ phát
hiện. Ông thầm nghĩ nếu mình hết lòng nuôi nấng chăm sóc, có lẽ chúng sẽ bỏ bớt
được phần nào tính hoang dã và quấn quýt thân thiện như chó nhà.
Trong ba chú sói, có một con tai rất thính, một con mắt rất
tinh và một con chạy rất nhanh, ông bèn đăt tên cho chúng lần lượt là Tai
Thính, Mắt Tình và Chân Nhanh. Ông còn dự định chúng lớn lên một lúc nữa sẽ dạy
để chúng phụ ông chăn cừu.
Một buổi sáng nọ, cả thị trấn xôn xao tin tức, đêm hôm trước
kẻ trộm đã đột nhập vào tòa thị trính ăn cắp 1000 đồng tiền vàng là tiền thuế của
cả thị trấn vừa thu để nộp lên tỉnh. Vụ việc quá đỗi nghiêm trọng nên ông thị
trưởng đã cho phong tỏa cả thị trấn, điều người khám xét kiểm tra khắp nơi, và
ra cáo thị ai cung cấp thông tin hữu ích sẽ còn được thưởng.
Ông Bụng Bự hay tin, bỗng nảy ra một mưu mô. Ông ta lén khều
lấy chiếc mũ của ông Râu Dài, âm thầm
mang đến quăng vào một góc tòa thị chính. Một lúc sau, quân lính đi điều tra thấy
chiếc mũ khả nghi, họ đoán đó có thể là chiếc mũ của tên trộm để lại, liền lập
tức điều tra chủ nhân là ai. Và rất nhanh họ biết đó là mũ của ông Râu Dài.
Quân lính bèn nhanh chóng kéo đến trang trại mời ông Râu Dài về điều tra.
Thấy cảnh ông Râu Dài bị dẫn đi, ông Bụng Bự thầm đắc chí,
giờ đây không có người thường xuyên chăm sóc, lũ cừu của ông sẽ gầy còm xấu xí
đi, giải nhất cuộc thi cừu đẹp năm nay coi như xem chắc là về tay mình. Ông Bụng
Bự nghĩ, qua một thời gian, nếu không tìm được bằng chứng gì xác đáng hơn, ông
Râu Dài rồi cũng được thả ra, nên cũng chẳng có gì đáng áy náy.
Ba chú sói từ lúc chủ bị bắt đi thì lo lắng bồn chồn không
yên, chúng bàn nhau phải tìm cách cứu ông chủ. Vậy là tối hôm ấy, chúng âm thầm
kéo nhau đến tòa thị chính tìm kiếm thử. Rất nhanh, Mắt Tinh đã thấy một nhúm sợi
vải nhỏ mắc ở hàng rào. Những sợi vải còn rất mới, có thể là của tên trộm thực
sự, khi hắn trèo đã bị mắc lại nhưng vì quá nhỏ lên quân lính không thấy được.
Ba chú chó sói băn khoăn vì dù có manh mối, nhưng chúng lại không thạo đánh hơi
bằng chó nhà, không thể làm gì tiếp được. Bỗng Tai Thính liền nảy ra sáng kiến
và đem bàn bạc với nhau.
Vốn nhà ông Bụng Bự nuôi một con chó tên Mõm Dài, mũi nó rất
thính, nhưng nó cũng rất ham ăn. Ba chú sói liền kéo về nhà, giả bộ đùa vui bên
đống rơm cạnh nhà ông Bụng Bự và cố ý nói để con Mõm Dài nằm khuất sau hông nhà
hàng xóm nghe thấy. Rằng ông chủ đã chuẩn bị cho chúng một thùng xương thật lớn,
ông chủ đã đánh dấu cần thận, chỉ cần lần theo mùi trên nhúm sợi vải này là có
thể tìm ra. Rồi ba chú sói giả bộ vùi nhúm sợi vải vào đống rơm để cất giữ rồi
lại nô đùa chạy đi mất.
Mõm Dài mắt nhắm nghiền thiu thiu ngủ, nghe thấy câu chuyện
bất ngờ như vậy liền choàng tỉnh, khi chấc chắn ba chú sói đã đi khuất, nó liển
lẻn qua hàng rào, hít hít nhúm sợi vải để nhớ mùi, rồi bắt đầu đánh hơi đi tìm.
Mõm Dài không ngờ rằng ba chú sói đã đứng ở đằng xa thấy hết mọi động tĩnh, quả
nhiên Mõn Dài đã mắc mưu. Giờ đây chính Món Dài sẽ giúp ba chú sói tìm ra manh
mối mới. Mắt Tinh bám theo ở một khoảng cách khá xa nhưng vẫn thấy được con mõm
ngắn đang sục sạo khắp nơi. Càng đi sâu vào trong làng, càng nhiều mùi lẫn tạp
nên bước đi của Mõm Dài có phần chậm lại. Bỗng nó dừng trước cửa một căn nhà,
đó chính là nhà người xà ích của ông thị trưởng. Ngôi nhà với tường cao kiên cố,
cửa đóng then cài kín như bưng, con vật ngó quanh, băn khoăn một lúc lâu. Có vẻ
như thấy không có cách nào vào trong được, Mõm Dài liền tiu nghỉu ra về. Nhưng
thế là quá đủ với ba chú sói, chúng đã biết nhà này có mang mối. Đợi Mõm Dài đi
khuất hẳn, chúng liền chạy lại cổng nhà ấy nghe ngóng.
Tai Thính áp sát một bên má để nghe từng âm thanh. Có tiếng
bàn soạn khe khẽ trong nhà giữa vài người đàn ông với nhau. Tai Thính nghe được
ngày mai người xà ích sẽ chuẩn bị xe ngựa cho ông thị trưởng lên họp trên tỉnh,
bọn họ sẽ lén giấu tiền vàng vào những túi nhỏ buộc dưới gầm xe. Xe của thị trưởng
thì lính gác chòi cảnh ra khỏi thị trấn sẽ không dám khám xét quá kỹ, họ sẽ đi
ra được ngoài thị trấn trót lọt và chia trác với nhau.
Nghe được tin này, ba chú sói bàn tính với nhau ngay ngày
mai, canh lúc chiếc xe khởi hành, chúng sẽ đến gây chú ý với một toán lính gác
để lính gác đuổi theo mình, còn chúng sẽ chạy thật nhanh đến cỗ xe, cào cho
rách những túi tiền ra để quân lính nhìn thấy. Điều này chỉ có thể trông cậy
vào Chân Nhanh vì nếu chạy chậm quá, quân lính sẽ tóm được chúng trước khi kịp
chạy đến cỗ xe.
Sáng hôm sau, đúng như kế hoạch đã bàn soạn, khi thấy người
xà ích đang thong thả đánh xe ngựa chở ông thị trưởng tiến ra phía chòi gác.
Chân Nhanh chạy đến cắn xé quần áo tốp lính đang đi tuần cách đó không xa. Mấy
tên lính quá tức giận, liền đuổi theo. Tai Thính và Mắt Tinh nhân lúc chiếc xe
chở ông thị trưởng dừng lại ở chòi gác để kiểm soát liền chui xuống gầm xe cắn
xé những bọc tiền vàng, vừa là lúc toán lính đuổi theo Chân Nhanh cũng chạy tới
nơi. Tiền vàng đổ ra đường nghe loảng xoảng. Mất mấy giây thì ông thị trưởng mới
hiểu chuyện gì đang xảy ra, liền cho quân lính mau chóng thu gom lại số vàng.
Tên xà ích thấy mọi chuyện bại lộ định tháo chạy nhưng ngay lập tức đã bị Chân
Nhanh đuổi theo xô ngã xuống, quân lính bèn sấn tới trói gọn hắn lại.
Vì đã thu hồi được số tiền vàng, tên xà ích cũng nhận tội,
ông lão Râu Dài được thả ra ngay, ông vui vẻ trở về, chăm sóc cho đàn cừu của
mình. Ba chú sói rất vui vì chủ của mình đã được thả. Mọi người thấy những chú
sói lanh lợi giúp tìm ra được tiền vàng bị mất để cứu chủ đều khen ngợi ông lão
đã nuôi được những chú chó thông minh, không còn ai để ý đến ngoại hình giống
sói của chúng nữa, nhờ vậy ông lão yên tâm để chúng có thể tự do chạy nhảy như
những chú chó nhà. Ông lão chỉ bị giam hơn một ngày, đàn cừu không hề hư hao gì
cả, qua tháng sau, cuộc thi cừu đẹp diễn ra, ông lão lại giành được giải nhất kỳ
thi cừu đẹp năm ấy.
Ở một vùng biển nọ có một người đánh cá lương thiện thật
thà, mỗi buổi sáng, anh thường ra biển đánh lưới, nhưng anh đã tự lập một lời hứa
là chỉ thả lưới đến khi nào đủ 3 cân cá, để đủ đổi lấy rau gạo cho 2 bữa ăn hôm
sau, nếu dư thì anh cũng sẽ thả đi và thu lưới đi về. Thời gian rảnh, anh còn
đi nhặt rác trên bờ biển. Anh lấy làm buồn vì người ta ngày càng xả rác nhiều
khiến cho biển cả cũng trở nên bẩn thỉu. Mọi người trong xóm làng đều quý mến
chàng trai anh.
Một buổi nọ, anh đang thơ thẩn nhặt rác thì thấy một chiếc vỏ
ốc rất đẹp, dưới ánh mặt trời, chiếc vỏ ốc
tỏa ra ánh sáng long lanh. Anh thanh niên thích thú cầm chiếc vỏ ốc lên, bất
giác nhớ lại những kỷ niệm ấu thơ anh hay áp chiếc vỏ ốc vào tai, nghe tiếng u
u như tiếng biển cả. Vậy là anh đem chiếc vỏ ốc ghé lên tai, kỳ lạ thay, một tiếng
nhạc vui tươi trong trẻo vang lên không dứt. Anh thanh niên thấy trong người
khoan khoái thư giãn lạ thường.
Trên đường về nhà, gặp ai anh cũng khoe chiếc vỏ ốc, mọi người
áp chiếc vỏ ốc vào tai nghe thử và đều lấy làm thích thú với món đồ chơi kỳ diệu
này. Ông lão hàng xóm nhà anh thanh niên trông thấy cảnh tượng vui thích ấy thì
lộ vẻ buồn bã, ông đã bị điếc nhiều năm nay chẳng còn nghe được một thanh âm
nào nữa. Ông ra hiệu với anh thanh niên muốn nghe thử. Thật không ngờ, vừa áp
chiếc vỏ ốc vào tai, ông lão điếc cũng mở mắt thật to lộ vẻ ngạc nhiên. Tiếng
nhạc em dịu nho nhỏ rồi lớn dần, lớn dần. Đến khi bỏ chiếc vỏ ốc xuống, ông lão
đã có thể nghe lại được bình thường.
Câu chuyện về chiếc vỏ ốc thần kỳ truyền đi rất nhanh, những
người bị điếc quanh vùng đều tìm đến anh chữa trị ai cũng được lành lại như thường,
kể cả những người bẩm sinh khiếm thính hay những người chẳng may vì tai nạn mà
mất đi khả năng nghe. Nhưng anh không lấy một đồng tiền công nào mà đều chữa chạy
cho mọi người miễn phí.
Bữa hôm ấy, một người trong làng vốn làm nghề buôn bán từ
kinh thành về biết chuyện, liền chạy đến nhà anh thanh niên nói một tin tức
mình mới nghe được. Nhà vua gần đây cũng bị điếc, thầy thuốc trong và ngoài
cung đều được truyền gọi đến thăm khám nhưng không kết quả gì cả. Nhà vua tuyên
cáo ai chữa được cho mình lành lặn như xưa nhà vua sẽ chia cho một nửa giang
sơn. Người lái buôn bèn gợi ý anh thanh niên lên kinh một chuyến xem sao. Anh thanh
niên vốn nghĩ mình cũng không ham thích quyền hành gì cả, nhưng nếu chữa được
cho vua, có thể anh sẽ xin nhà vua lưu tâm hơn đến việc dọn dẹp biển. Nghĩ vậy
anh khăn gói lên đường.
Lên đến kinh thành, chàng trai nói với lính gác cung và liền
được dẫn vào gặp nhà vua. Đã mấy tháng nay, từ ngày trở chứng, nhà vua không
còn nghe thấy một tiếng động gì nữa, mọi sự vụ chỉ có thể được nắm bắt bằng
cách đọc tấu sớ quần thần gửi lên, nhưng với một người đam mê đàn hát giải trí
như nhà vua, suốt ngày chìm trong yên lặng tuyệt đối khiến nhà vua rất đau buồn
chán nản, bao nhiêu ngự y trong cung, danh y ngoài cung đã xin chữa chạy với đủ
mọi phương pháp đều không có lấy một tín hiệu gì cải thiện, nhà vua đã có phần
nản lòng. Nay thấy quân lính dẫn chàng trai vào chỉ với một chiếc vỏ ốc, nhà
vua còn hồ nghi chưa tin.
Nhưng không ngờ, chỉ cần áp tai vào chiếc vỏ ốc trong một
lúc, nhà vua lại nghe được rõ ràng như xưa. Quá đỗi bất ngờ và vui sướng, nhà
vua bèn cho chàng trai lui vào cung tắm rửa thay y phục, sáng hôm sau nhà vua sẽ
giữ đúng lời hứa, trước mặt quần thần cắt đất chia đôi giang sơn cho chàng trai
một nửa.
Biết tin nhà vua đã nghe lại được, mà người chữa chạy cho
vua lại là một người ngư dân bình thường, tên quan đứng đầu thái y viện rất tức
giận, hắn bèn vào tâu với vua rằng không thể có chuyện như vậy được, bao lâu
nay chẳng qua là công sức của các quan thái y đã gia sức chữa chạy, thuốc đã cải
thiện từ từ, hắn vu cho người thanh niên là kẻ mưu mô, đã liệu trước thời cơ đến
lúc vua gần lành thì vào lừa bịp nhà vua để hưởng lợi, chiếc vỏ ốc chỉ là một
thứ đồ chơi không chữa được gì hết, không thể chia đôi giang sơn cho một người
như thế. Nhà vua nghe thấy tên quan thái y xúi giục, chủ ý cũng giao động ít
nhiều. Nhưng vua cũng không thể không giữ lời hứa được, sẽ bị cả nước chê cười.
Tên quan thái ý liền hiến cho vua một kế, ngày mai trước đông đảo quần thần sẽ
mời một vài người điếc đến, nếu như chiếc vỏ ốc thực sự chữa được lành cho họ
thì có thể ban thưởng, bằng không phải trị tội. Nhà vua bèn tán thành.
Hôm sau quan thái y dẫn vào một số người điếc cho anh thanh
niên chữa thử, nhưng anh không hề biết những người này đều được tên quan thái y
dặn trước, dù anh thanh niên có làm gì cũng vẫn giả vờ không khỏi. Quả nhiên,
dù anh thanh niên cho họ nghe thế nào, họ cũng làm bộ vẫn không nghe được. Đến
lúc này, nhà vua đã hoàn toàn tin lời tên quan thái ý, vua bèn tức giận giam
anh thanh niên vào ngục chờ sau sẽ định đoạt.
Trong ngục anh thanh niên rất đau buồn vì mình có lòng tốt
mà không ngờ lại bị vướng vào họa như vậy. Ở ngoài, những người được anh chữa
trị khi hay tin cũng rất bất bình và thương cảm cho anh thanh niên, họ bèn họp
nhau lại bàn bạc cách cứu anh ra. Vừa hay họ nghe tin nhà vua chuẩn bị đi bơi
thuyền, họ bèn nảy ra một kế hoạch táo bạo. Bàn tính với nhau đã kỹ, một người
trong số họ đút lót cho lính canh ngục để đưa vào một phong thư báo tin cho anh
nắm được tình hình để hai bên cùng phối hợp.
Buổi sáng hôm ấy, theo kế hoạch, đức vua dẫn theo một đoàn
tùy tùng đi chèo thuyền trên sông. Nhà vua vui vẻ muốn chứng tỏ mình thạo chèo thuyền liền tổ chức
cuộc đua cùng tùy tùng xem ai nhanh hơn đến khúc cua phía xa xa. Đoàn tùy tùng
đương nhiên không dám vượt mặt vua bèn cố ý chèo thật chậm. Nhà vua một mình một
thuyền chèo đến đoạn sông khuất sau những ngọn dừa nước, thấy người dân họp chợ
đông đúc thì lấy làm vui thích muốn chèo lại gần quan sát nhưng ông bất ngờ nhận
ra mình không còn nghe thấy họ nói gì, chỉ thấy miệng họ mấp máy. Quá hốt hoảng,
nhà vua lại càng chèo tới gần, vẫn không nghe thấy tiếng gì cả. Vừa lúc ấy thì
đám tùy tùng cũng kịp chèo đến nơi, lúc này nhà vua lại nghe thấy chúng nói
chuyện. Vậy là nhà vua thấy vừa băn khoăn khó hiểu vừa lo lắng không yên, chẳng
thiết chơi bời gì nữa mà quay về. Nhưng nhà vua không hề biết, dân chúng trên
sông chính là nhóm người chịu ơn anh thanh niên đã lập sẵn mưu như vậy, họ chỉ
mấp máy môi, khoa chân múa tay giả bộ như đang trò truyện nhưng không nói ra tiếng
để cho nhà vua phải nghi ngờ.
Trong ngục, anh thanh niên nói kháo với đám lính canh rằng bệnh
của nhà vua phải chứa vài lần mới khỏi được, nếu không chữa ngay cho khỏi hẳn
thì dần dần lúc nghe được, lúc không, rồi sẽ điếc luôn không cách nào chữa chạy
được nữa. Tin này đến tai vua, quả nhiên ứng với tình hình buổi chèo thuyền hôm
ấy, vua hốt hoảng chẳng còn thiết cân nhắc gì nữa, liền truyền thả cho anh
thanh niên ra chữa tiếp cho mình.
Anh thanh niên lại theo cách cũ chữa cho nhà vua, qua mấy
ngày để ý, nhà vua thấy tai vẫn nghe được bình thường nên yên tâm mình đã lành
bệnh. Phần thì vua xấu hổ với anh thanh niên, phần thì vua băn khoăn việc hôm ấy
tại sao chữa những người khác thì không được. Vua bèn cho âm thầm điều tra mới
hay mưu gian của tên quan thái ý đã sắp đặt như vậy. Nhà vua hết sức tức giận,
liền bắt giam quan thái ý.
Trong ngục, tên quan thái y oán trách nhà vua đã đối xử với
mình như vậy. Hắn là tên quan mưu mô nham hiểm, lâu nay trong triều cương đã âm
thầm móc nối, bố trí tâm phúc. Trong tình cảnh này, hắn liền âm thầm ra lệnh
cho một tên thuộc hạ bấy lâu nay cài cắm làm người hầu bên cạnh vua, hạ độc vào
nước trà, nếu như nhà vua uống nhiều, độc phát tác mạnh thì coi như nhà vua xấu
số, nếu như độc ít thì hắn sẽ xin ra chữa chạy để lấy công chuộc tội để được
tha.
Quả nhiên mưu gian của tên quan thái y được thực hiện, đức
vua trúng độc mê man, quần thần đang rối bời chưa biết ra sao thì được tin tên
quan thái ý xin ra chữa. Không còn cách nào khác, quần thần đành phải đồng ý,
tuy nhiên độc phát tác quá mạnh, tình hình rất đỗi nguy kịch, tên thái y cũng
bó tay.
Anh thanh niên nghĩ bụng nếu như đã là vỏ ốc thần thì thử
đem sắc lên cho vua uống có khi lại có tác dụng. Nghĩ vậy anh thanh niên bèn đề
xuất với các quan. Chiếc vỏ ốc gặp lửa đun sôi bèn tan biến hòa vào trong nước,
đem cho vua uống, qua một lúc nhà vua quả nhiên hồi tỉnh.
Tên thái y lại giở bài cũ, nói rằng thuốc của chính hắn mới
hữu hiệu, chẳng qua nhà vua mới uống còn chưa kịp ngấm, lúc sau vua dùng thuốc
của anh thanh niên vừa hay tỉnh lại. Nhà vua cũng còn băn khoăn chưa biết xử
trí luận công cho ai, nhưng thiết nghĩ trong lúc nguy khốn tên thái y vẫn có
lòng lo cho vua nên xá tội tạm tha.
Chiếc vỏ ốc thần không còn, anh thanh niên cũng nói rõ với
nhà vua không cần xin ban thưởng gì cả, chỉ cần vua lưu tâm đến bảo vệ và làm sạch
biển để ngư dân được nhờ. Nhà vua vui vẻ đồng ý. Anh thanh niên lại về quê sống
cuộc đời bình lặng trước kia.
Không lâu sau đó, tên thái y cũng từ từ trở bệnh điếc, tự
mình chữa trị cũng không sao khỏi lại. Hắn ân hận giá như không bày mưu hãm hại
thì có lẽ giờ đây mình cũng không phải lâm cảnh bệnh tật như vậy.
Nốt ruồi ánh bạc
Ở một miền quê nọ
có một gia đình chỉ có hai anh em và một ông bố già, bà mẹ đã qua đời từ lâu.
Ông bố làm thuê để nuôi hai con ăn học, hai anh em cũng rất ngoan ngoãn luôn đỡ
đần công việc cho cha. Một ngày nọ cha bất ngờ đổ bệnh, chữa chạy thuốc thang tốn
kém, gia cảnh càng thêm bần hàn. Người anh đành bỏ học, để em ở nhà chăm sóc
cha còn mình thì xin vào làm ở một hầm mỏ xa nhà mà một người quen giới thiệu.
Chủ hầm mỏ ấy là
tên tham lam độc ác, hắn chỉ thuê những cậu thiếu niên làm công để dễ bề quản
thúc bóc lột. Dưới hắn còn có một ông chú quản mỏ trực tiếp quán xuyến việc
chung giúp chủ. Ông chú cũng là một người đàn ông dễ mến, đối xử tương đối
khoan hòa với đám thợ mỏ trẻ nhưng ông
thường dính vào cờ bạc đỏ đen nên tiền lương có khi bị chủ lừa thắng sạch.
Đến khu mỏ không
bao lâu, người anh cũng dần quen với công việc dù đó là một nơi làm việc rất nặng
nhọc, nguy hiểm mà đồng lương cũng rẻ mạt. Buổi tối hôm ấy, mọi người xong việc
cùng ra giếng nước đi tắm, mấy người khác giờ mới để ý trên lưng người anh có một
nốt ruồi màu ánh bạc rất lạ. Mọi người đều xôn xao thích thú. Họ không biết rằng
chú quản mỏ trong văn phòng nghe được chuyện này mắt chợt sáng lên thích thú.
Đó là vì nhiều năm trước đây, khi còn trẻ, ông đã từng làm thuê đến những nơi
chốn xa xôi và được nghe một thầy phù thủy của một bộ lạc trong núi nói rằng ai
có nốt ruồi ánh bạc trên lưng sẽ có năng lực đặc biệt. Ban đêm, chỉ cần đặt bất
cứ đồ vật kim loại gì xuống lưng họ lúc họ ngủ thì đều biến thành bạc vào sáng
hôm sau. Nhưng nếu như người đó biết được chuyện này thì năng lực ấy sẽ mất đi
mãi mãi nên mọi việc phải tiến hành thật bí mật.
Tối ấy ông bèn lẻn
vào khu nhà ngủ của thợ mỏ, đặt vào lưng người anh một chiếc cúc áo bằng thiếc thử xem. Sáng hôm sau khi những người thợ trở dậy sửa
soạn đi làm, trời còn nhá nhem tối, ông quản mỏ liền đi vào nói là thăm mọi người
nhưng kỳ thực là nhanh tay nhặt lấy chiếc cúc áo hôm qua rồi vội cầm về phòng.
Cầm lên quan sát, chiếc cúc áo quá to, nên mới chỉ có một góc nhỏ biến thành bạc,
bởi lẽ thợ mỏ làm việc rất vất vả, một buổi tối họ chỉ được ngủ vài tiếng đồng
hồ không đủ thời gian để biến cả chiếc cúc thành bạc.
Đêm hôm sau ông lại
lặp lại như hôm trước, nhưng rút kinh nghiệm chiếc cúc áo, lần này ông chỉ đặt
một chiếc ghim giấy mảnh bằng sắt. Qua hôm sau chiếc ghim đã thực sự biến thành
bạc toàn bộ. Quá đỗi vui sướng, vậy là chú quản mỏ âm thầm hàng ngày đều đặt một
chiếc ghim giấy xuống chỗ lưng chàng
trai nằm. Nhờ đó ông có tiền bạc rủng rỉnh chi tiêu. Ban đầu, ông sẵn lòng bỏ một
phần tiền mua sắm các thứ đồ đạc và thức ăn để cải thiện đời sống cho đám thợ mỏ.
Nhưng có tiền, chú quản mỏ ngày càng sa đà vào cờ bạc không tự chủ được nữa. Nhất
là tên chủ mỏ mưu mô, biết chú có vốn liếng thường rủ rê chú chơi nhưng kỳ thực
đều bày mưu gian để thắng hết tiền của chú.
Gần đây hắn cảm
thấy lạ là chú có khá nhiều tiền, hắn bèn bày trò mời chú đến nhà ăn cơm, chuốc
cho chú say rồi dụ chú nói ra sự tình. Sau khi nghe biết được khả năng đặc biệt
của người thanh niên, lòng tham của hắn nổi lên, hắn bèn lập mưu giả bộ mời người
thanh niên đến nhà ăn cơm, nhưng hắn chuốc thuốc mê cho anh ngất đi rồi đặt xuống
lưng anh một đồng xu. Người thanh niên trúng thuốc ngủ mê mệt sáng rõ hôm sau mới
tỉnh, người chủ mỏ vẫn luôn trực chờ ở bên, khi người thanh niên trở dậy, hắn
liền vơ vội đồng xu lại chạy ra ngoài và len lén xem, đồng xu đã biến thành bạc
hoàn toàn. Hắn nhảy cẫng lên vui sướng rồi liền ngay lập tức bắt nhốt anh vào một
gian mật thất. Từ đó mỗi buổi tối đều ép người anh uống thuốc mê làm anh bất tỉnh rồi làm theo cách cũ để thu
những đồng xu bạc vào buổi sáng.
Người thanh niên
khốn khổ hoang mang không hiểu sao người chủ lại bắt mình giam hãm như vậy, điều
kiện ăn ở tồi tàn lại trúng thuốc mê mỗi ngày khiến sức khỏe anh ngày càng suy
kiệt. Người duy nhất biết được chuyện này là chú quản mỏ nhưng chú cũng rối bời
chưa biết xử trí ra sao. Ông lại càng lo lắng khi có lần nghe được tên chủ mỏ
gian ác đang thuê người điều chế loại thuốc mê ngủ có hiệu lực tận vài năm,
hòng làm cho người thanh niên ngủ thật lâu đủ biến thành bạc cả một tấm sắt lớn
mà hắn đã chuẩn bị.
Ở quê nhà, cha và
người em đã lâu không được tin tức gì của người anh thì rất lo lắng. Người cha
liền bảo em mau khăn gói lên đường tìm đến chỗ anh trai để xem sao. Đến nơi người
em được đám thợ mỏ cho biết anh mình đã mất tích bấy lâu nay. Người em quá đỗi
đau buồn đang chưa biết đi đâu tìm anh thì chú quản mỏ liền gọi người em vào
nói hết mọi sự tình. Chú cũng rất day dứt ân hận vì mình mà người anh lâm vào
hoàn cảnh này, chỉ mong sao có thể cứu thoát anh ra. Người em liền nảy ra một
sáng kiến nhờ chú quản mỏ hợp tác cùng mình để giải cứu anh.
Chú quản mỏ liền
đến gặp tên chủ giả bộ nói một điềm rất bí mật đó là việc người em đến tìm anh,
nhưng chú còn thấy trên lưng người em có nốt ruồi ánh kim, thậm chí còn kỳ diệu
hơn cả nốt ruồi ánh bạc của người anh trai vì có thể biến mọi thứ thành vàng
theo cách tương tự. Tên chủ mỏ hám lợi ngay lập tức mời người em đến dùng bữa,
hắn đinh bụng sẽ giở trò cũ. Vừa hay, tấm sắt và loại thuốc gây mê nhiều năm hắn
đặt điều chế đã về. Hắn rắp tâm sẽ dùng nó đánh thuốc mê người em.
Bữa tối đang diễn
ra thì người quản mỏ theo kế hoạch đã bàn soạn với người em, liền chạy vào báo
một chuyện vụn vặt. Nhân lúc tên chủ không chú ý đến bàn ăn nữa, người em đã
đánh tráo hai li nước. Khi tên chủ quay lại, hắn uống xong li nước liền lập tức
mê man bất tỉnh. Người em liền lùng sục khắp nơi để tìm chỗ giam giữ anh, nhưng
tên chủ mỏ quả là cáo già, buồng giam mà hắn xây quá bí mật đã qua nhiều ngày
mà cậu vẫn chưa tìm ra.Tên chủ mỏ lại là người duy nhất biết vị trí, hằng ngày
đưa thức ăn nước uống cho anh, giờ đã qua mấy ngày, sợ rằng sức khỏe người anh
không ổn. Người em day dứt vì suy nghĩ chưa thấu đáo đến chuyện này. Cậu liền
đem mọi chuyện nói cùng đám thợ mỏ, họ là những người đào mỏ nên ít nhiều thạo
việc đào bới tìm kiếm. Quả nhiên nhờ sự giúp sức hết lòng của đám thợ mỏ, cuối
cùng cũng tìm ra được người anh và cứu thoát ra ngoài. Người em tận tình chăm
sóc người anh hết lòng nên người anh mau chóng bình phục.
Người em đem câu chuyện kể lại cho anh, người anh lúc ấy
mới sáng tỏ mọi sự tình nhưng cũng bởi vậy
mà khả năng đặc biệt của người anh cũng mất. Hai anh em phát hiện những đồng bạc
mà bấy lâu nay tên chủ gian ác đã lợi dụng anh mà có được vẫn còn được cất trữ
trong giương ở phòng của hắn, người anh bèn chia cho mỗi người ở mỏ một ít làm
vốn liếng để họ quay về quê sinh sống. Còn tên chủ thì người anh gọi gia đình hắn
đến chở về nhà,có lẽ phải vài năm nữa hắn mới hồi tỉnh được. Gia đình hắn thì
chỉ nghĩ do hắn rượu chè nên say xỉn quá lâu. Nhưng nghe nói qua một thời gian
sau, hắn từ từ tắt hơi thở có lẽ bởi thứ thuốc mê độc ác ấy hiệu lực quá mạnh,đúng
là gieo gió thì gặp bão.
Hai anh em trở về
quê nhà, người em tuy rất cảm kích anh trai đã rộng rãi chia sẻ cho mọi người
toàn bộ đám xu bạc nhưng vẫn hơi băn khoăn tại sao anh chỉ giữ lại cho mình quá
ít, bởi lẽ khả năng của anh đã mất. Về đến nhà,lúc này người anh mới vui vẻ tiết
lộ, trước đây hồi còn ở nhà, mỗi mùa hè anh đều đi canh kho thóc cho làng để kiếm
thêm phụ gia đình, anh nhớ kho thóc không có giường nên anh đã xin trưởng làng
chiếc cánh cửa hỏng lâu nay vẫn vứt chỏng trơ một góc, vốn là cửa cũ của kho
thóc để làm chỗ ngủ, tính ra anh đã ngủ trên chiếc cửa đó nhiều ngày trong suốt
mùa hè mấy năm, có thể nó đã biến thành bạc, chỉ cần cạo đi lớp sơn sẽ thấy. Vậy
là hai anh em vui vẻ khiêng chiếc cửa về. Nhờ món tiền khổng lồ từ chiếc cửa đã
biến thành bạc ấy, người cha đã được chữa lành, hai anh em có tiền ăn học và đều
thành tài. Gia đình họ cũng quyên góp rất nhiều tiền để giúp đỡ những người
nghèo khó khắp nơi.
Viên ngọc ước
Ở một ngôi làng nọ
có hai mẹ con sống với nhau, bà mẹ là một người phụ nữ hiền hậu tốt bụng, cô
con gái cũng rất ngoan ngoãn đảm đang. Hai mẹ con làm việc đồng áng chăm chỉ
làm kế sinh nhai. Trước đây khi còn ông bố thì cuộc sống cũng không đến nỗi nhọc
nhằn, nhưng chẳng hiểu sao mấy năm trước, khi ấy cô con gái còn rất nhỏ thì ông
bố đột nhiên đi đâu mất tích, để hai mẹ con ở lại bơ vơ.
Một buổi nọ, hai
mẹ con đang thu hoạch hoa màu trên cánh đồng thì bà mẹ bỗng lăn đùng ra ngất xỉu,
dân làng vội đưa giúp bà mẹ về nhà và mời thầy thuốc đến thăm khám, sau khi
khám xét kỹ càng, ông thầy thuốc cũng lắc đầu buồn bã cho biết mẹ cô đã mắc bệnh
hiểm nghèo e chỉ còn sống được ít ngày nữa.
Đến nhà giàu dốc hết cả gia sản mua những tiên đơn diệu dược cũng chưa chắc khỏi
chứ đừng nói gia đình cô nghèo xác nghèo sơ như vậy. Cô con gái đau đớn khóc
lóc không thôi, dân làng cũng mủi lòng thương cảm mà không biết sao được.
Bỗng một bà gia,
người phụ nữ sống thọ nhất làng kể cho cô biết khi bà còn nhỏ có một truyền
thuyết nói rằng sâu trong dãy núi phía xa xa, nơi khởi nguồn của con sông chảy
qua làng, có một viên ngọc thần có thể cho người ta những điều ước, nhưng mọi
người đều nghĩ đó là chuyện hoang đường chưa từng ai đi tìm thử. Cô gái nghe được
chuyện này liền lập tức nảy ra ý định đi vào chốn ấy xem thử, dù sao cũng không
còn cách nào khác, cô bèn nhờ dân làng tạm chăm sóc mẹ để mình lên đường, việc phải thật khẩn trương vì nếu đợi chờ thêm nữa
sợ mẹ cô không qua khỏi.
Cô bèn men theo
con sông đi sâu vào trong núi hết ngày đầu tiên, mà chưa thấy dấu hiệu gì sẽ thấy
thượng nguồn con sông cả. Trong rừng núi âm u, trời tối xuống rất nhanh, cô vẫn
cố xăm xăm tiến bước thì bất ngờ thấy phía trước có một ngôi nhà ánh sáng leo
lét. Cô đã được nghe về những tên phù thủy sống trong biệt lập ở những nơi
hoang vắng nên khi thấy ngôi nhà, cô bất giác dè chừng sợ hãi. Nhưng nghĩ bụng
người này sống trong núi biết đâu có thể cho mình lời khuyên để mau chóng đến
đích, cô bèn đến gõ cửa căn nhà.
Cô gõ cửa hồi lâu
mới thấy tiếng bước chân trong nhà ra mở cửa, vừa khi cánh cửa mở ra, cô kinh
hãi hét lên. Đó là một người đàn ông với gương mặt xù xì gớm ghiếc, cô đang định
quay người bỏ chạy thì người đàn ông liền gọi với theo trấn an cô gái, nói mình
là người nhưng chẳng may bị mắc bệnh phong nên gương mặt biến dạng, vì không muốn
làm mọi người sợ hãi xa lánh nên mới dọn sâu vào trong núi đây sống. Nghe mấy lời
ấy, cô gái có hơi bình tĩnh lại, cô rất thương cảm những mảnh đời bệnh tật vì
ngay chính mẹ mình cũng đang lâm nguy. Cô bèn an ủi người đàn ông và hỏi han đường
đi tìm thường nguồn con suối. Người đàn ông lấy làm tiếc vì chính ông cũng chưa
đi xa đến thế. Hai người đang nói chuyện thì bỗng đâu có tiếng khỉ phía sau vườn
chí chóe. Người đàn ông bỗng buồn rầu nói với cô gái là ở đây có đàn khỉ rất
phá phách và hung tợn, chúng thường kéo đến cắn phá vườn tược của ông khiến ông
ở không yên, nhất là con đầu đàn càng tinh khôn và ngang ngược. Cô gái thương
người đàn ông khốn khổ bèn nảy ra một cách giúp ông.
Nhân bên hông nhà
có một cái lu nước xăm xắp, cô bèn chui vào trong lu, đóng nắm lại. Lũ khỉ đừng
trên mái nhà thấy lạ đều ngó nghiêng quan sát, bỗng trong chiếc lu vang lên tiếng
cười thích thú. Rồi cô gái lại mở lắp bước ra còn cố ý nói với người đàn ông rằng
quả là chiếc lu thần, chui vào đóng nắp kín lại là thấy bao nhiêu cảnh tượng kỳ
thú bên trong. Rồi cô cùng người đàn ông vào nhà. Con khỉ đầu đàn thấy vậy rất
hiếu kỳ, cũng từ từ tụt xuống, chui vào lu và đóng nắp lại. Người đàn ông nhanh
chân chạy đến đèn lên chiếc lu khiến con khỉ bị nhốt ở trong vùng vẫy không
thoát ra được. Nó van xin nhưng người đàn ông nói vì nó phá quấy ông bấy lâu nên
ông quyết phải tiêu diệt nó. Con khỉ hứa sẽ dẫn cả đàn đi bằng một giọng nài nỉ
rất tha thiết, người đàn ông mới mủi lòng thả nó ra. Cô gái liền nhân tiện hỏi
nó đường đi vào thượng nguồn con suối, con khỉ liền chỉ dẫn cô chi tiết, rồi
xong xuôi, nó giữ đúng lời hứa, dẫn cả đàn bỏ đi. Người đàn ông liền chuẩn bị
cho cô một cây đuốc và phần bánh trái để cô kịp lên đường.
Cô gái đi xuyên
đêm băng qua những tán cây dừng rậm rạp chưa có dấu chân người, những vách đá
cheo leo sắc như dao cứa vào da thịt. Cô gái dừng lại nghỉ mệ một lúc thì bỗng
đâu thấy một bóng đen lù lù nhảy ra chồm lấy cô gái. Bóng đen tự xưng mình là
quỷ rừng, hắn sẽ ăn thịt cô gái. Cô gái quá đỗi kinh hãi còn chưa biết tính sao
thì bỗng nảy ra một ý. Cô bèn xin con quỷ đừng ăn thịt mình, cô sẽ cho hắn một
thứ khác ngon hơn nhiều. Cô bèn lấy những chiếc bánh mà người đàn ông cho cô
đưa cho con quỷ rừng ăn thử, con quỷ thích thú ăn ngon lành, từ trước đến nay hắn
đều săn thú, bắt người để ăn thịt chứ không hề biết bánh trái của con người lại
ngon như vậy, nếu có bánh trái để ăn thì hắn chẳng thèm ăn thịt làm gì nữa. Cô
gái bèn kể lể chuyện của mình và hứa nếu hắn tha cho cô đi, khi tìm được viên
ngọc ước, cô sẽ ước cho hắn có bánh ăn hàng ngày. Tên quỷ bèn vui vẻ đồng ý,
còn chỉ dẫn cô đi tiếp, vì trời sắp sáng, hắn phải mau chóng trốn vào hàng nếu
không ánh sáng ban ngày sẽ khiến hắn bị mù.
Cô gái theo chỉ dẫn
lại đi lâu thật lâu thì thấy một hồ nước rộng mênh mông tưởng như không cách
nào qua được, cô ước chừng có lẽ thượng nguồn con sông đổ nước vào hồ này nằm đối
diện bờ phía bên kia, nhưng nếu đi vòng theo bờ hồ thi không biết đến bao giờ mới
tìm thấy,mà bệnh tình mẹ nguy cấp quá rồi, đang chưa biết xử lý ra sao thì thấy
có một con cá sấu lù lù bơi từ mặt hồ lên. Cô lùi lại mấy bước mới yên tâm vì
trên bờ cô được an toàn. Con cá hỏi han cô vì sao lại đến đây, cô bèn kể mọi chuyện.
Con cá sấu nói mình biết chỗ thượng nguồn và đề nghị chở cô băng qua hồ đến thẳng
chõ ấy. Cô gái rất ngần ngừ vì sợ nếu nghe
lời dụ của con cá sấu, khi xuống nước có thể nó sẽ xông đến ăn thịt cô.
Cô đã nghĩ đúng vì đó chính là âm mưu trong đầu của con cá sấu. Bỗng cô tỏ vẻ
vui mừng đồng ý, còn cố tình nói với nó, một lát lấy xong viên ngọc quý, nhờ cá
sấu lại chở cô về. Con cá sấu nghĩ bụng cứ chở cô đi an toàn, đợi cô gái lây
xong viên ngọc, lượt về nó sẽ ăn thịt cô gái, tiện thể chiếm luôn viên ngọc
cũng chưa muộn. Vậy là cô gái lên lưng con cá sấu, băng qua mặt hồ hướng thẳng
đến phía thượng nguồn con sông.
Cô gái trèo lên
những phiến đá nơi những mạnh nước ngầm chảy rỉ ra khỏi mặt đất hòa vào thành một
lạch nhỏ đổ xuống hồ nước. Cô đã thấy ánh sáng lấp lánh trên đầu mình, quả
nhiên đó là viên ngọc thần. Cô vui vẻ cầm viên ngọc quay trở lại, con cá sấu thấy
cô thì hớn hở tưởng như mưu gian sắp thành, bỗng nhiên nó như sực nhớ ra điều
gì đó, mặt nó méo xệch. Đúng vậy, giờ đây đã có viên ngọc, cô gái có thể ước đi
thẳng về nhà, đâu cần nhờ nó chở nữa, quả nhiên con vật ngu ngốc không nghĩ ra
từ trước. Nó lồng lên hòng đớp lấy cô gái để cầu may. Cô gái bình tĩnh ước cho
con cá sấu có thể lên bờ, biết nấu nướng và phải làm bánh cho quỷ rừng ăn mỗi
ngày. Con cá sấu liền lập tức biến đi. Dưới động quỷ, con quỷ rừng thấy cá sấu
xuất hiện thì sửng sốt bất ngờ, nhưng chưa kịp hiểu chuyện gì thì con cá sấu đã
bắt tay vào dọn dẹp làm bánh. Đến lúc này quỷ rừng mới đoán ra được sự tình. Hắn
thấy khá là phiền phức, thà cứ ước thẳng bánh cho nó cũng được nhưng đó là ý cô
gái muốn tiện thể trừng trị luôn con cá sấu.
Cô bèn ước điều ước
thứ hai là được về thẳng tới nhà mình. Trong chớp mắt, cô đã đứng bên cạnh giường
mẹ. Người mẹ bệnh tình đã nguy kịch chỉ còn chút hơi sức cùng kiệt. May mắn
thay đợi được con về kịp lúc, cô bèn ước cho mẹ khỏe lại như xưa. Ngay lập tức
sắc mặt bà mẹ hồng hào, người thấy khoan khoái lạ thường, bà mẹ xuống được giường
đi lại, quả nhiên bà đã lành bệnh.
Dân làng hay tin
đều kéo đến chúc mừng, và nói cô mau chóng ước thật nhiều vàng bạc, nhưng cô
gái đã từ chối, cô ước cho người cha đã thất lạc bao năm của cô được trở lại,
quả nhiên tức khắc, một người đàn ông xuất hiện giữa nhà. Đó chính là người đàn
ông cô gặp trong rừng sâu. Dân làng thấy bộ dạng vậy thì vô cùng kinh hãi,
nhưng cô gái, tuy cũng bất ngờ vì đó là cha mình đã đứng ra giải thích. Người
đàn ông kể lại, năm ấy, ông chớm thấy có dấu hiệu bị mắc bệnh phong, vì để vợ
con không bị xóm làng hắt hủi, ông đã âm thầm trốn vào trong núi tránh xa mọi
người.Tuy vậy mấy năm nay nhờ ăn những thứ thảo mộc trong núi, vô tình ông thấy
bệnh mình mỗi lúc một ổn, không còn tiến triển thêm nữa.
Cô gái liên lấy
viên ngọc ra ước cho cha được lành lặn như xưa, nhưng đợi một lúc không có gì
thay đổi cả. Mọi người lấy làm thất vọng, có vẻ như viên ngọc chỉ ước được đến
như vậy. Tuy nhiên đối với cô, việc mẹ khỏi bệnh và cha trở về đã là điều may mắn
quá lớn không thể đòi gì thêm. Dân làng cảm động với tấm lòng hiếu thảo của cô
gái, cũng bớt kỳ thị người cha và để gia đình họ được chung sống cùng nhau.
Viên ngọc tuy đã
hết linh nhưng vẫn là một món đồ quý tuyệt đẹp. Cô đem bán được một món tiền, sửa
sang lại nhà và mua mấy con bò, nhờ vậy gia đình mỗi ngày một khấm khá, cả nhà
cô chung sống vui vẻ đầm ấm. Lâu lâu, vào buổi tối, con quỷ rừng vẫn thường bí
mật xuống chia bánh cho cô ăn vì con cá xấu làm nhiều quá ăn không hết.
Đi tìm ngỗng con
Bên bờ một con sông nọ, những thân lau cao vút phủ một màu
xanh ngắt chạy dài hai bên bờ. Ở một góc trong bãi lau ấy, có một con ngỗng trời
mẹ với bộ lông trắng muốt đang ấp ủ ba quả trứng yêu dấu của mình chờ đến ngày
con nở.
Một buổi sáng nọ, đang thiu thiu nghe tiếng lau lách vi vu
thì bỗng nhiên tiếng bước chân truy đuổi dồn dập tới, chưa kịp hiểu chuyện gì xảy
ra thì một con lợn rừng to thù lù vô tình chạy ào đến. Chân nó đã bị thương. Nó
van xin con ngỗng mẹ hãy giúp mình, nó vừa trúng đạn thợ săn, đám thợ cũng đang
chuẩn bị đuổi đến đây. Ngỗng mẹ nghĩ bụng nếu không cứu con lợn rừng thì sợ khi
thợ săn xông đến cũng làm hại luôn các con mình. Vậy là khi đám thợ săn đến gần,
ngỗng mẹ vụt bay lên đánh lạc hướng. Đám thợ săn ham mồi, liền chạy đuổi theo
quyết săn ngỗng mẹ. Ngỗng mẹ bay trước một đoạn, cứ chốc chốc lại xà xuống thấp
gần đám thợ săn để dụ họ, từ từ, cả người và ngỗng đã đi một quãng thật xa, lúc
ngày ngỗng mẹ mới yên trí bay vút lên cao trở về tổ. Về đến nơi, con lợn rừng hết
sức cảm kích ân tình của ngỗng mẹ, hứa sau này có gì cần sẽ hết lòng giúp đỡ.
Thời gian thấm thoát, cả ba quả trứng đều đã nở thành ba chú
ngỗng con dễ thương. Hằng ngày ngỗng mẹ dẫn các con xuống sông tập tành cho con
bơi lội kiếm ăn. Một hôm, đang buổi trưa, mấy mẹ con thong dong giữa dòng thì một
con quạ bay tới. Nó nói nhà quạ chuẩn bị thi hoa hậu, nó muốn xin con ngỗng mẹ
vài sợi lông trắng để tô điểm thêm vì bộ lông đen của mình quá đơn giản. Tuy chẳng
quen biết gì nhưng ngỗng mẹ vẫn vui vẻ nhổ cho con quạ vài sợi lông thật mềm và
mượt. Con quạ vui vẻ dắt lên ngực mình tạo thành một vòng cườm kiều diễm. Mấy
ngày sau quả nhiên con quạ đó được lên ngôi hoa hậu. Con quạ còn đến cảm ơn ngỗng
mẹ một lượt nữa.
Lại một buổi chiều nọ, mấy mẹ con đang tung tăng tiến về bờ
chuẩn bị nghỉ ngơi sau một ngày dài bơi lội, thì thấy trên bờ có một con mèo
đang rón rén ngó nghiêng. Ngỗng mẹ sợ con mèo làm hại đàn con liền tức tốc gom
các con lại ra dáng cảnh giác. Con mèo thấy vậy liền trấn an và kể lể sự tình.
Nó vốn là một con mèo nhà nhưng chẳng may bị chủ bỏ rơi, có chiếc vòng cổ là kỷ
vật nó rất quý, hôm nay ra sông uống nước chẳng may rớt xuống dưới đáy, đang ngần
ngừ chưa biết làm sao vì mèo vốn rất sợ nước. Ngỗng mẹ nghe tin cũng lấy làm
thương cảm, liền ngỏ ý sẽ lặn xuống tìm giúp. Mấy con ngỗng con tuy mới tập
tành chưa tạo cũng lăng xăng. Bốn mẹ con ngoi lên lặn xuống một hồi cũng tìm thấy
chiếc vòng cổ đem trả cho mèo. Con mèo cảm ơn rối rít.
Hôm ấy cả nhà lại ra sông kiếm ăn như mọi ngày, bỗng nhiên
trời kéo lại đen đặc, gió nổi ào ào, biết sắp có giông, ngỗng mẹ bèn cuống cuồng
dẫn các con bơi thật mau, ngỗng mẹ dìu ba con lên bờ tìm chỗ trú. Nhưng mưa ập
đến rất nhanh, mấy mẹ con ngả nghiêng xiêu vẹo đi vào một vạt lau nọ. Ngỗng mẹ
trông lại các con thì thất kinh không biết lạc đâu bé út nhưng đang lúc giông
gió chưa thể làm gì được. Một lúc sau giông tan, ngỗng mẹ và hai con đổ xô đi
tìm mà đến tận xế chiều không thấy.
Ngỗng mẹ đang sụt sùi thì thấy con lợn rừng bước đến. Như có
người giãi bày, ngỗng mẹ liền òa lên than khóc. Con lợn rừng bèn nói sẽ tìm
giúp. Vậy là nó liền khụt khịt đánh hơi. Tuy không thạo bằng chó nhưng mũi lợn
rừng lúc cấp bách vẫn dùng tạm được. Đánh hơi một hồi, ba mẹ con ngỗng và con lợn
theo dấu tiến ra vùng đất trống thì mất dấu. Cả đám đang ngó nghiêng nhìn quanh
thì con mèo từ gần đấy bước ra. Ngỗng mẹ liền hỏi thử thì mèo nói, vừa rồi thấy
mẫy người cắm trại gần đây, nghe loáng thoáng hình như họ bắt được một con gì
đó, giờ họ thu đồ về lại thị trấn thì mang cùng về nuôi.
Không còn nghi gì nữa, biết con mình đã bị bắt đi, ngỗng mẹ
rụng rời đau xót. Nhưng cả lợn và mèo đều ra sức động viên an ủi ngỗng mẹ. Vậy
là cả đám quyết vào thị trấn tìm cho được ngỗng con.
Vì tình hình cấp bách, lợn rừng bèn bảo cả mèo và hai con ngỗng
bám lên lưng mình rồi nhằm hướng về thị trấn tức tốc chạy tới. Ngỗng mẹ thì bay
trên cao xem xét gần xa. Một lúc sau đã thấy những căn nhà của con người thấp
thoáng hiện ra. Cả đám liền trốn vào góc vườn một ngôi nhà nọ, có vẻ như chủ
nhà đã đi vắng nên không có bóng người nào cả, chúng có thể yên tâm chọn đây
làm đại bản doanh tạm thời của mình. Mèo nhảy thoắt lên mái nhà, đi lại hỏi han
các đồng loại của mình một lúc. Vì trong thị trấn này, mèo nhà mèo hoang đều rất
đông và đi lại tự do nên thông tin không đâu nhanh nhạy bằng chúng. Dưới đất 5
cái đầu hướng lên hóng đợi, trên mái nhà một đàn mèo râm ran trao đổi nhưng một
lúc sau tất cả đều buồn rầu ủ rũ vì không có tin tức gì khả quan. Bỗng tiếng
loa phát thanh vang lên làm cả đám giật mình, thì ra đã đến giờ phát thanh buổi
chiều, đó là những thông tin khu phố như thường ngày.
Con quạ nhìn quanh một vòng cau mày khó chịu nhưng rồi bất
giác trong đầu nó lóe lên 1 suy nghĩ, cả đám xúm lại bàn bạc nghe chừng rất
căng thẳng, xong xuôi rồi y theo kế hoạch mỗi người mỗi việc. Lợn rừng được
phân công ở lại trông hai đứa ngỗng nhỏ, còn quạ và ngỗng nhằm hướng đài phát
thanh bay đến, đậu trên mái chờ đợi một lúc. Mèo thì chạy ra bãi rác. Chỉ mất
vài phút ngồi rình, nó đã tóm được 1 chú chuột nhắt. Con chuột tưởng mình bị xé
xác tới nơi thì kêu la ầm ĩ nhưng con mèo không có thời gian đôi co, càng ngoạm
chặt con chuột trong miệng rồi chạy thoăn thoắt đến đài phát thanh tụ hội cùng
quạ và ngỗng đang đợi.
Lúc này trong phòng phát thanh, một cô gái đang đọc tin say
sưa không để ý. Con quạ với thân hình nhỏ nhắn, luồn lách qua lỗ thông khí chui
vào phòng rồi đến bên cửa sổ, dùng chiếc mỏ khéo léo của mình cạy mở chốt ra, từ
từ từng chút một, ướm chừng đã đủ để cho ngỗng và mèo chui lọt, nó mới dừng lại.
Mèo bèn nhảy thoắt vào thả con chuột ngay trên bàn. Cô gái phải mất vài giây mới
kịp nhận ra thứ gì trước mắt mình, cô hốt hoảng la hét rồi mở cửa chạy ra
ngoài. Ngỗng mẹ nhân lúc ấy liền lao vào nói thật to vào trong micro. Cả khu vực
con người chỉ nghe thấy tiếng “khà khà, khạc khạc” một hồi trên loa phát thanh,
nhưng đối với loài vật, một thông điệp rõ ràng đã được phát ra, đó là những lời
tha thiết của người mẹ mong tìm giúp đứa con thơ bé bỏng. Ngỗng mẹ dặn dò con nếu
nghe được tin này, đừng sợ hãi, nửa đêm nay khi phố phường chìm vào yên ắng,
hãy kêu thật to để ngỗng mẹ hoặc mọi người có thể nhận biết vị trí và đến cứu.
Vừa nói dứt lời đã nghe những bước chân người dồn dập ngoài
cửa, cả lũ ù té chạy thoát thân ra khỏi cửa sổ, rồi về lại góc vườn nơi lợn rừng
và hai bé ngỗng đang đợi. Ngỗng mẹ thầm khẩn cầu một cơ may nào đó, có con vật
nào nghe được tin và trông thấy con mình sẽ truyền tin giúp hoặc nếu như ngỗng
con bị nhốt một nơi kín khuất nào đó, nghe được tin ấy thì nửa đêm nay cũng biết
để cùng phối hợp.
Thời gian trôi đi thật nhanh, cả khu phố đã chìm vào màn
đêm, những âm thanh ồn ào của cuộc sống ban ngày tắt dần. Cả đám tỏa ra, con đi
dưới đất, con leo trên tường và mái nhà, con bay là là trên trời, tất cả cùng
căng tai nghe xem có tiếng kêu của ngỗng con hay không. May mắn thay một lúc
sau ngỗng mẹ đã nghe thấy tiếng con mình ở một ngôi nhà gần ngã tư. Ngỗng mẹ định
xà xuống thì phải hốt hoảng bay lên vì nhà ấy có một con chó to lù lù nhào lên
sủa inh ỏi. Vậy là cả hội lại ngồi túm lại một góc gần đó bàn bạc.
Hơn ai hết mèo hiểu giống chó thường rất trung thành với chủ
và kiên quyết không để ai vào lãnh thổ của nó nên không thể cầu xin thương lượng
gì được. Chủ cũ của mèo sau khi dọn nhà bỏ nó lại, vừa khi chủ mới đến cũng
nuôi một con chó, vì vậy mà ngay muốn về thăm nhà cũ của mình mèo cũng không làm
được.
Một hồi sau khi bàn bạc xong xuôi. Lợn rừng bèn đi lại giả bộ
thong dong lượn lờ trước cổng nhà ấy. Đúng như dự đoán, con chó thấy lợn rừng
ngúng nguẩy đi lại trước nhà thì sấn sổ ra đe dọa nhưng còn cách một lớp cổng
khiến nó không làm gì được. Con quạ đã tháo hết những cộng lông dắt ở cổ của
mình mà nó xin ngỗng mẹ dịp trước, giờ nó chỉ còn một màu đen tuyền dễ dàng hòa
vào màn đêm. Nhân lúc con chó đang lồng lộn ngoài cửa, quạ lén trui vào nhà từ
vườn sau, vào lùng sục một hồi. Cuối cùng nó cũng thấy con ngỗng con ở một góc,
con ngỗng con thấy cô quạ thì mừng rối rít. Quạ bèn làm hiệu bảo nó im lặng lại,
không cần kêu nữa. Rồi vẫn bằng chiếc mỏ khéo léo của mình, nó mở then lồng dẫn
nó ra một khoảng trống quang đãng của khu vườn.
Vừa khi quạ nhẹ nhàng bay vút lên thì ngỗng mẹ cũng từ mái
nhà bên cạnh bay sà xuống, nhưng ngỗng mẹ vốn to lớn nên tiếng bay phạch phạch ồn
ào, con chó từ cổng trước biết mình mắc lừa đánh lạc hướng bèn xoay người chạy
vội ra vườn sau. Ngỗng con vừa kịp ngồi vững thì hai mẹ con kịp bay vút lên
ngay trước khi con chó phi người chồm tới. Ngỗng mẹ chở con bay một mạch ra đường
gần đó mới đáp xuống, một lúc sau cả đám cũng thu về đến nơi, cùng reo hò thích
thú vì cuối cùng cũng đã thành công. Chúng đón thêm mấy hai bé ngỗng còn lại
đang ngủ say sưa ở ngôi nhà chúng tạm trú, rồi cùng nhau quay trở lại bãi lau
phía bờ sông trước khi trời sáng.
Con chim chào mào trắng
Có một người tiều phu nọ sống cùng mẹ già trong một túp lều
tranh ở bìa một khu rừng, ngoài chặt củi đốt than, mỗi mùa anh còn xoay qua đào
măng, hái nấm, nhổ các thứ thảo mộc dược liệu rồi bẫy những loài thú nhỏ, bẫy
chim, gà rừng để kiếm sống. Hai mẹ con cũng có chút tiền dùng dắng qua ngày.
Một ngày nọ bà mẹ nói với anh rằng tuy hai mẹ con cuộc sống
khó khăn nhưng anh đừng đi bẫy các giống vật nữa tội nghiệp chúng. Anh tiều phu
cũng biết mẹ nói phải nhưng nhờ bẫy chim thú mà mới có ít nhiều thu nhập chứ chỉ
riêng trông vào cỏ cây thì không đủ sống. Vậy là anh nói vu vơ với mẹ, nếu như
một ngày nào đó, thấy một con chim chào mào màu trắng thì anh sẽ thôi không bẫy
chim thú nữa. Bà mẹ lấy làm buồn vì bà biết chim chào mào con nào chẳng đen với
xám, nhưng âu cũng vì con phải vất vả mưu sinh lo liệu cho hai mẹ con nên cũng
không còn cách nào khác.
Xong câu chuyện, anh lại vào rừng kiếm củi. Đi một quãng xa,
anh ngồi nghỉ bên bờ suối uống ngụm nước thì bỗng nhiên trên đầu nghe thấy tiếng
chim chóc bám đuổi đánh nhau xôn xao. Ngửng mặt trông lên anh ngạc nhiên há cả
miệng. Đó là một con chim chào mào trắng đang bị con chim cắt săn đuổi. Con
chim chào mào có bộ lông trắng toát. Màu lông nổi bật như vậy thì nó không trốn
vào đâu được, nó hẳn sẽ bị săn đuổi đến cùng rồi chết trong móng vuốt của con
chim cắt mất thôi- anh nghĩ bụng. Quả nhiên chẳng mấy chốc, con chim chào mào bị
đánh ngã nhào xuống đất, thấy hiếu kỳ vì con chim lạ, anh bèn đến nhặt ngay nó
lên rồi đuổi con chim cắt đi khi nó vừa xà xuống định quắp lấy. Chim cắt trông
vẻ cay cú vì mất con mồi, nó chao lượn mấy vòng trên vòm những tán lá rồi mới
bay đi mất.
Anh tiều phu khẽ thở dài vì không ngờ lời mới nói với mẹ buổi
sáng xong giờ đã thành thật, thế là nhặt xong bó củi đủ nặng lưng, anh đi về thẳng
nhà, mang theo con chim chào mào về cùng. Nó đã bị thương khá nặng, đặt xuống đất
cũng đi ngả nghiêng siêu vẹo chứ không nói gì là bay đi. Bà mẹ thấy con chim lấy
làm lạ lùng, quả nhiên trời Phật cũng an bài như vậy. Bà chăm chút cho con chim
nhỏ chục ngày nó mới lại được sức, lớp lông tả tơi vì bị thương cũng hồi phục lại
mượt mà gọn gàng. Nó nhảy thoăn thoát rồi hót líu lo quanh nhà, đã khỏi hẳn,
bay lại được bình thường nhưng nó vẫn không đi đâu, chỉ quanh quẩn quấn quýt lấy
bà cụ và anh tiều phu.
Một buổi sáng nọ, anh tiều phu lại vào rừng thì con chim tỏ
ra hăng hái bay trước dẫn đường, rồi cứ đi một đoạn lại đậu chờ anh tiều phu.
Thấy kỳ lạ, anh tiều phu cũng đi theo nó một quãng đường xa, bất ngờ anh thấy một
cây nhân sâm mọc lách trong kẽ đá dưới tán cây, anh vui mừng còn hơn bắt được
vàng, liền lập tức hí hoáy đào bới, đến tận buổi chiều mới xong, tuy vất vả
nhưng cây sâm rất được giá nên hai mẹ con cũng được một món. Kế từ đó, lâu lâu
con chim chào mào trắng lại dẫn anh đi đào những cây dược liệu quý trong rừng,
hai mẹ con sống cũng được thoải mái. Anh thường nhìn thấy con chim bay lên đậu
trên cây xoài bên hông nhà hót líu lo cùng những con chim rừng, có lẽ là chúng
hỏi han trao đổi thông tin với nhau. Vậy là hàng ngày anh đều rắc thóc cho
chúng ăn.
Một bữa nọ, từ trên rừng về, không thấy mẹ ngồi ngoài hiên
như thường lệ, anh chột rạ chạy vào nhà xem thì thấy bà mẹ nằm sõng soài trên nền
nhà bếp, mặt tím tái bất tỉnh. Anh cuống cuồng chưa biết làm sao thì con chim
nhảy nhót rối rít như ra hiệu rồi quắp vào áo anh kéo đi. Anh tiều phu như hiểu
ý con chim muốn mách bảo gì liền chạy theo nó, một quãng thấy nó dừng lại trên
một bụi cây, anh đoán nó muốn chỉ thuốc cứu mẹ, liền nhổ một ít về tức tốc sắc
cho mẹ uống. Quả nhiên một lát bà mẹ hồi tình. Anh hỏi han mẹ sự tình nhưng bà
mẹ cũng không hề hay biết, chỉ nhớ rằng buổi sáng đang nấu cơm chờ anh về thì
có nếm thử một muỗng canh, vừa xong thì thấy người nôn nao xây xẩm, một lát lịm
đi không biết gì. Anh tiều phu liền chạy xuống mở nồi canh ra, nhìn thật kỹ mới
thấy mấy chiếc lá ngón lẩn khuất trong những lá rau, còn đang nghĩ ngợi thì bỗng
anh chột dạ. Chim cắt cũng là giống mưu mô lại thù dai, có lẽ nào nó lén quắp mấy
chiếc lá ngón nhân lúc mẹ anh không để ý thì thả vào, hôm bữa anh có thấy nó lượn
lờ gần nhà mình, vốn chỉ tưởng đó là một con cắt khác, không ngờ nó lại là con
bị anh đánh đuổi để cứu chào mào hôm nọ. Từ đấy anh dặn dò mẹ phải chú ý cẩn thận
hơn.
Buổi chiều hôm ấy, quan tri phủ vùng ấy nổi hứng đi săn bắn,
liền cùng tùy tùng ruổi ngựa vào rừng. Nhưng cả ngày trời không săn được con
nào, tri phủ đã thấy bực tức toan về thì bỗng nhiên thấy một con thỏ lấp ló
trong bụi cây, hắn liền dương cung bắn một mũi, trúng ngay nó. Đang hớn hở chạy
tới định nhặt thì con chim cắt lao vụt qua quắp lấy. Tri phủ vô cùng tức giận
vì con mồi bị cướp ngang liền quyết đuổi theo, chạy mãi một quãng xa thì thấy
nó xà xuống nhà anh tiều phu thả con thỏ xuống. Tri phủ liền xốc ngựa chạy mau
tới. Từ xa xa còn nghe tiếng hót líu lo rất hay vọng ra từ căn nhà.
Quan quân ập tới, tri phủ cưỡi cả ngựa vào sân thấy con thỏ
của mình đang nằm một góc, lớn tiếng quát tháo. Anh tiều phu và mẹ thấy đông
người ồn ào liền chạy ra thưa bẩm. Thấy con chim chào mào màu lông trắng muốt, tên
quan đã lấy làm lạ lùng thích thú, lại thấy nó quấn quýt nhảy nhót trên vai anh
tiều phu, hắn càng chăc mẩm anh biết huấn luyện giống chim, liền lớn tiếng quát
tháo, một mực đổ cho anh đã dạy con chim cắt trộm cướp đồ đạc, ngay đến con mồi
của quan cũng dám động đến.
Anh nông dân giờ mới rõ sự tình thì nhăn nhó kêu oan, bà mẹ
cũng quỳ sụp xuống vái lạy thanh minh cho con. Nhưng tri phủ vẫn lớn tiếng quát
nạt, rồi ông quắc mắt đòi anh tiều phu phải đền cho mình con chim chào mào thì
sẽ tha, bằng không thì sẽ trị tội. Hai mẹ con cùng quý mến con chim nên ngần ngừ
chưa biết sao thì tri phủ đã sốt ruột sai lính đánh hai mẹ con tới tấp. Anh tiều
phu thấy mẹ bị đánh đạp như vậy thì không còn cách nào đành xin tha, bắt lấy
con chim đưa cho tri phủ. Tên quan gian tham được con chim hớn hở ra về.
Còn lại hai mẹ con, đau đớn vì đòn roi thì ít mà buồn rầu vì
mất chú chim quý thì nhiều, lại lo lắng từ nay không còn nó chỉ chỗ hái thảo dược,
cuộc sống đành tự mình xoay xở mưu sinh lại quay lại những ngày cơ cực như xưa.
Anh càng căm tức con chim cắt đã mưu mô giá họa cho anh như vậy.
Viên tri phủ được con chim quý, mang về phủ ai ai cũng trầm
trồ thích thú, cả đời họ chưa từng thấy con chim chào mào có màu lông lạ như vậy.
Sợ nó bay mắt, hắn bèn làm một chiếc lồng son thật đẹp nhốt nó vào, nhưng con
chim bị giam hãm cứ buồn rười rượi, chằng thiết ăn uống hay ca hót gì nữa. Viên
tri phủ thấy thế không được vui, bữa ấy, hắn đang định cho chim ăn thì có tên đầy
tớ hốt hoảng chạy vào thưa chuyện người ta kháo nhau trên phố rằng chim chào
mào trắng là điềm gở tang tóc, ai nuôi trong nhà thì sẽ có người chết. Tên tri
phủ nghe tin lấy làm chột dạ nhưng còn tiếc con chim chưa biết làm gì. Ngẫm ngợi
một lúc, hắn nghĩ không nuôi được thì thà giết đi chứ không thả ra, nói đoạn hắn
liền quẳng cả lồng cả chim xuống ao cá. Con chim giãy giụa một hồi rồi nằm im,
người rũ ra lềnh bềnh, lông sũng nước. Tên tri phủ liền vứt con chim lên bờ tường,
định cho lũ mèo đến xâu xé.
Vừa khi tên tri phủ quay người đi vào, một bàn tay từ ngoài tường
khẽ với lấy con chim đưa nó ra, đó chính là anh tiều phu, anh xót xa ân hận,
chính anh tung tin đồn về con chim ở chợ những mong truyền đến tai tên tri phủ,
hắn sẽ lo sợ mà thả đi. Từ sáng anh đã đứng ngoài này để nghe ngóng động tĩnh, không
ngờ hắn lại độc ác đến độ giết chết chứ không thả như vậy. Nay chỉ đón được xác
con chim tội nghiệp, anh tiều phu ôm vào ngực khóc nức nở. Bỗng nhiên anh thấy
nó khẽ động đậy, thì ra nó chưa chết hẳn, anh vui sướng bèn giấu con chim vào
tay áo chạy một mạch về nhà.
Qua mấy ngày con chim lại hồi tình, vui vẻ quấn quýt như
xưa. Nhưng anh tiều phu còn nghĩ bụng, con chim cắt nó thù hằn anh như vậy,
không xử được nó thì còn sợ còn chưa yên. Chỉ có điều đó là giống chim tinh
khôn, muốn lừa được nó chắc không có cách nào. Bỗng trong đầu anh lóe lên một
ý.
Anh tiều phu lại ra trợ tung tin đồn rằng hễ ai ăn được tim chim
cắt thì sức khỏe sẽ tráng kiện, trẻ mãi không già, bệnh tật gì cũng thuyên giảm.
Tin đồn vừa lan ra, cả vùng cùng thi nhau săn chim cắt, không những là dân
chúng bình thường, cả người người lắm tiền nhiều của cũng bỏ tiền ra mua. Tuy
chim cắt tinh ranh và bay nhanh nhưng người săn quá đông, cũng có vài ba con bị
bỏ mạng. Lũ chim cắt bị dân trong vùng săn đuổi hốt hoảng bỏ xứ ấy mà đi không
dám bén mảng đến nữa. Tên tri phủ gian tham cũng vì tin đồn không những bỏ tiền
ra mua lại của đám thợ săn, mà còn tự mình tính đi bắn. Bữa ấy, trong luc đi
lăn, vì quá ham rượt đuổi không để ý, hắn bị ngã ngựa gãy cả chân, một thời
gian sau dù lành bệnh nhưng vẫn phải đi khập khiễng.
Quảng Ngãi, 18/01/2023